Phát triển hệ thống y tế TP.HCM theo hướng đa cực
Nếu đa tầng kiến tạo hành trình chăm sóc sức khỏe liên tục cho người dân, thì đa cực là lời giải cho bài toán tổ chức không gian y tế của đô thị hiện đại: đưa năng lực chuyên môn đến gần người dân, hình thành nhiều cực phát triển đủ mạnh và kết nối trong một mạng lưới thống nhất, thay vì tiếp tục tập trung nguồn lực vào một trung tâm duy nhất.

Tái cấu trúc không gian y tế của một siêu đô thị
Trong một siêu đô thị, khoảng cách địa lý cũng quan trọng không kém trình độ chuyên môn. Một hệ thống y tế chỉ thật sự công bằng khi người dân được tiếp cận dịch vụ chất lượng cao mà không phải đánh đổi bằng thời gian di chuyển và chi phí xã hội. Đó chính là yêu cầu đặt ra đối với TP.HCM sau khi mở rộng không gian phát triển. Vì vậy, đa cực không đơn thuần là quy hoạch bệnh viện, mà là tái cấu trúc toàn bộ không gian chăm sóc sức khỏe của đô thị.
Trong nhiều thập niên, mô hình phát triển y tế của TP.HCM dựa trên một giả định phù hợp với điều kiện lịch sử: các nguồn lực chất lượng cao tập trung tại khu vực trung tâm để tạo nên những bệnh viện lớn, những trung tâm chuyên sâu và những thương hiệu y khoa của cả nước.
Mô hình đó đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình.
Nhưng khi không gian đô thị mở rộng gấp nhiều lần, khoảng cách địa lý trở thành một yếu tố quyết định khả năng tiếp cận dịch vụ y tế.
Một hệ thống được tổ chức theo tư duy "một trung tâm" sẽ khó đáp ứng yêu cầu của một đô thị đa trung tâm, trải rộng trên hàng nghìn kilômét vuông. Càng tập trung nguồn lực vào khu vực nội đô, áp lực giao thông, chi phí xã hội và tình trạng quá tải càng gia tăng.
Nói cách khác, nếu không thay đổi cách tổ chức không gian y tế thì quy mô đô thị càng lớn, hệ thống càng khó vận hành hiệu quả.
Chính vì vậy, TP.HCM lựa chọn chiến lược phát triển hệ thống y tế theo hướng đa cực như một bước chuyển từ tư duy tập trung nguồn lực sang tư duy phân bố tối ưu năng lực.
Phân bố tối ưu năng lực, không phải chia đều nguồn lực
Đa cực không có nghĩa là mỗi khu vực đều xây dựng một số bệnh viện giống nhau. Cũng không có nghĩa là chia đều bác sĩ, trang thiết bị hay nguồn đầu tư cho tất cả địa phương.
Một hệ thống y tế hiện đại không hướng tới sự đồng đều tuyệt đối mà hướng tới sự hợp lý trong phân bố năng lực.
Vì vậy, mỗi cực phát triển trước hết phải đủ năng lực đáp ứng các nhu cầu khám chữa bệnh thiết yếu của người dân ngay tại địa phương. Những chuyên khoa nền tảng như cấp cứu, hồi sức, nội khoa, ngoại khoa, chấn thương chỉnh hình, sản, nhi, gây mê hồi sức, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm... phải được bảo đảm ở tất cả các cực phát triển.
Đó là điều kiện để người dân có thể được cấp cứu, điều trị và chăm sóc kịp thời mà không phải di chuyển vào khu vực trung tâm đối với phần lớn bệnh lý thường gặp.
Trên nền tảng các chuyên khoa thiết yếu, mỗi cực sẽ được ưu tiên phát triển những lĩnh vực chuyên sâu phù hợp với lợi thế của mình, như tim mạch, ung bướu, nhãn khoa, răng hàm mặt, y học cổ truyền, phục hồi chức năng… Qua đó hình thành bản sắc chuyên môn riêng nhưng vẫn bảo đảm năng lực chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người dân.
Điểm giống nhau giữa các cự là tất cả đều đủ năng lực chăm sóc sức khỏe toàn diện. Điểm khác nhau là mỗi cực có thêm những lĩnh vực chuyên sâu tạo nên bản sắc và lợi thế riêng.
Mỗi cực là một hệ sinh thái y tế hoàn chỉnh
Một cực phát triển y tế không đơn thuần là một bệnh viện lớn được đặt ở một vị trí mới. Đó là một hệ sinh thái y tế hoàn chỉnh, được tổ chức đồng bộ từ y tế cơ sở đến bệnh viện khu vực, bệnh viện chuyên sâu, hệ thống cấp cứu ngoại viện và hạ tầng số, đủ năng lực chăm sóc sức khỏe người dân trên toàn bộ địa bàn.
Trong mỗi cực phát triển, Trạm y tế và Đội chăm sóc sức khỏe liên tục là nền tảng quản lý sức khỏe người dân theo vòng đời; hệ thống cấp cứu ngoại viện là mắt xích tiếp cận người bệnh nhanh nhất; bệnh viện đa khoa khu vực là trung tâm điều trị của vùng; các chuyên khoa chuyên sâu được đầu tư theo định hướng riêng của từng cực; còn các bệnh viện tuyến cuối của Thành phố giữ vai trò hạt nhân chuyên môn, hỗ trợ thông qua chuyển giao kỹ thuật, hội chẩn từ xa, đào tạo và luân phiên nhân lực.
Các thành phần đó không tồn tại riêng lẻ mà được kết nối thành một mạng lưới thống nhất. Người dân được quản lý sức khỏe ngay tại cộng đồng, được cấp cứu kịp thời khi có tình huống khẩn cấp, được điều trị tại cơ sở phù hợp với tình trạng bệnh và được chuyển tuyến nhanh chóng khi cần các kỹ thuật chuyên sâu. Sau điều trị, người bệnh tiếp tục được theo dõi và quản lý lâu dài tại địa phương. Đó cũng chính là tư duy đa tầng được hiện thực hóa trong không gian của mô hình đa cực.
Quy hoạch mỗi cực phát triển không chỉ tính đến quy mô dân số hay số lượng giường bệnh, mà còn phải đồng bộ với quy hoạch giao thông, phát triển đô thị, phân bố dân cư, khu công nghiệp, cảng biển, sân bay và các hành lang kinh tế của Thành phố. Một cực phát triển y tế chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi vừa đáp ứng tốt nhu cầu hiện tại, vừa có khả năng đón đầu sự phát triển của đô thị trong nhiều thập niên tới.
Đưa năng lực y tế đến nơi người dân sinh sống
Trong tư duy truyền thống, người bệnh phải tìm đến nơi có chuyên gia. Trong tư duy đa cực, hệ thống y tế chủ động đưa năng lực chuyên môn đến gần nơi người dân sinh sống. Đây là sự thay đổi căn bản trong triết lý phát triển của một hệ thống y tế hiện đại.
Trong tư duy truyền thống, chất lượng của hệ thống được phản ánh qua những bệnh viện lớn ở trung tâm. Trong tư duy đa cực, chất lượng của hệ thống được phản ánh bằng khả năng để người dân ở bất kỳ khu vực nào cũng có thể tiếp cận dịch vụ chất lượng cao trong khoảng cách hợp lý.
Sức mạnh của một cực phát triển không được quyết định bởi quy mô công trình hay số lượng giường bệnh, mà bởi năng lực chuyên môn, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ quản trị và khả năng kết nối với toàn mạng lưới y tế.
Vì vậy, trọng tâm của chiến lược đa cực không phải là xây dựng thêm thật nhiều bệnh viện mới, mà là hình thành các cực y tế đủ mạnh tại những cửa ngõ và các vùng phát triển của Thành phố. Điều quan trọng không phải mỗi địa phương đều có một bệnh viện lớn, mà là mỗi khu vực đều có khả năng đáp ứng phần lớn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngay tại chỗ.
Năng lực đó được tạo dựng thông qua đầu tư đồng bộ về nhân lực, trang thiết bị và hạ tầng kỹ thuật, nhưng quan trọng hơn là sự kết nối chuyên môn trong toàn hệ thống. Các bệnh viện cửa ngõ và bệnh viện khu vực không hoạt động đơn lẻ mà trở thành trung tâm điều trị của từng cực phát triển, được các bệnh viện tuyến cuối hỗ trợ thường xuyên thông qua các hình thức luân phiên bác sĩ, chuyển giao kỹ thuật, hội chẩn từ xa, đào tạo liên tục và thống nhất quy trình chuyên môn.
Thực tiễn tại TP.HCM đang minh chứng rõ cho định hướng này. Các bệnh viện cửa ngõ như Bệnh viện Đa khoa Khu vực Thủ Đức, Bệnh viện Đa khoa Khu vực Củ Chi, Bệnh viện Đa khoa Khu vực Hóc Môn cùng các bệnh viện khu vực như Bệnh viện Đa khoa Bình Dương, Bệnh viện Đa khoa Vũng Tàu, Bệnh viện Đa khoa Bà Rịa đang từng bước được nâng cao năng lực nhờ sự đồng hành, hỗ trợ của các bệnh viện chuyên sâu đầu ngành trong nhiều lĩnh vực như cấp cứu, hồi sức, tim mạch, ngoại khoa, sản - nhi và chẩn đoán hình ảnh,... Khi năng lực chuyên môn được nâng lên, các bệnh viện này sẽ trở thành trung tâm chăm sóc sức khỏe của từng vùng, giúp người dân tiếp cận dịch vụ chất lượng cao ngay tại địa phương, giảm chuyển tuyến không cần thiết và để các bệnh viện chuyên sâu tập trung điều trị những ca bệnh phức tạp nhất.
Tuy nhiên, một cực phát triển y tế không chỉ được tạo nên bởi một bệnh viện mạnh. Nền tảng của mỗi cực còn là mạng lưới chăm sóc sức khỏe ban đầu với Trạm Y tế, Đội chăm sóc sức khỏe liên tục và mạng lưới y tế cộng đồng. Chính mạng lưới này bảo đảm quản lý sức khỏe theo vòng đời, phát hiện sớm yếu tố nguy cơ, quản lý bệnh mạn tính, chăm sóc sau điều trị và kết nối người dân với bệnh viện khi thật sự cần thiết.
Bệnh viện là trung tâm chuyên môn của một cực phát triển, còn y tế cơ sở là nơi duy trì sự hiện diện thường xuyên của hệ thống y tế trong cộng đồng. Khi hai thành phần này được liên kết thành một mạng lưới thống nhất, mỗi cực phát triển không chỉ đủ năng lực điều trị mà còn đủ khả năng chăm sóc sức khỏe liên tục cho người dân.
Khi đó, khoảng cách địa lý sẽ không còn quyết định chất lượng dịch vụ y tế. Người dân không còn mặc nhiên phải tìm đến khu vực trung tâm để được điều trị tốt, bởi năng lực chuyên môn đã được phân bố hợp lý trong toàn hệ thống. Đó chính là đích đến của chiến lược phát triển y tế theo định hướng đa cực: đưa dịch vụ y tế chất lượng cao đến gần người dân, thay vì buộc người dân phải tìm đến nơi có dịch vụ.
Một mạng lưới thống nhất thay vì những bệnh viện riêng lẻ
Đa cực chỉ phát huy hiệu quả khi các cực phát triển được kết nối trong cùng một mạng lưới.
Các bệnh viện tuyến cuối giữ vai trò hạt nhân chuyên môn của từng mạng lưới, thực hiện chuyển giao kỹ thuật, đào tạo, nghiên cứu, hội chẩn từ xa, hỗ trợ quản trị chất lượng và luân phiên chuyên gia.
Các bệnh viện cửa ngõ và bệnh viện khu vực không phải là những đơn vị "ở tuyến dưới", mà là những đối tác trong cùng một mạng lưới chuyên môn. Quan hệ giữa các bệnh viện không còn chủ yếu dựa trên phân cấp hành chính mà được tổ chức theo sự kết nối và hỗ trợ chuyên môn.
Toàn bộ hệ thống không vận hành như những bệnh viện riêng lẻ mà như một mạng lưới chuyên môn thống nhất, trong đó bệnh viện tuyến cuối giữ vai trò hạt nhân dẫn dắt, còn các bệnh viện cửa ngõ và bệnh viện khu vực là những mắt xích mạnh, trực tiếp cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho người dân tại từng cực phát triển. Chính sự kết nối đó tạo nên giá trị của toàn hệ thống, lớn hơn nhiều lần tổng năng lực của từng bệnh viện riêng lẻ.
Trong mô hình đa cực, khoảng cách địa lý không còn là rào cản nếu các cơ sở y tế được kết nối bằng một hạ tầng dữ liệu thống nhất. Hồ sơ sức khỏe điện tử của người dân, bệnh án điện tử, hệ thống điều phối khám chữa bệnh, hội chẩn từ xa và kho dữ liệu dùng chung sẽ giúp thông tin y tế được liên thông xuyên suốt giữa các cơ sở trong toàn hệ thống.
Khi đó, người bệnh có thể được theo dõi liên tục dù khám tại trạm y tế, điều trị tại bệnh viện khu vực hay chuyển đến bệnh viện chuyên sâu. Bác sĩ ở mỗi cơ sở không bắt đầu lại từ đầu mà kế thừa đầy đủ dữ liệu đã có, rút ngắn thời gian chẩn đoán, hạn chế chỉ định trùng lặp và nâng cao chất lượng điều trị.
Vì vậy, trong chiến lược đa cực, kết nối không chỉ bằng giao thông hay luân phiên nhân lực mà còn bằng hạ tầng số và dữ liệu y tế. Chính sự liên thông đó sẽ biến nhiều cực phát triển thành một hệ thống y tế thống nhất, vận hành như "một bệnh viện không tường" trên phạm vi toàn Thành phố.
Đa cực mở ra không gian phát triển mới cho y tế TP.HCM
Chiến lược đa cực không chỉ tạo ra nhiều cực phát triển mới. Xa hơn, đó là quá trình tái cấu trúc toàn bộ không gian phát triển của hệ thống bệnh viện Thành phố.
Trước hết, xu hướng phát triển của các bệnh viện tuyến cuối sẽ không chỉ dừng lại ở một cơ sở duy nhất trong khu vực nội đô, mà từng bước hình thành mô hình một bệnh viện – nhiều cơ sở, gắn với các cực phát triển của Thành phố. Đây không đơn thuần là mở rộng quy mô, mà là tái phân bố năng lực chuyên môn theo không gian đô thị, đưa các dịch vụ kỹ thuật cao đến gần người dân hơn.
Xu hướng này đang từng bước được hiện thực hóa. Sau khi Cơ sở 2 của Bệnh viện Nhân dân Gia Định đi vào hoạt động hiệu quả tại Bệnh viện Sài Gòn (cũ), bệnh viện tiếp tục định hướng phát triển Cơ sở 3 tại khu vực Phú Mỹ, hình thành mạng lưới phục vụ cả khu vực phía phía Đông Nam của Thành phố. Mới đây, Bệnh viện Đa khoa Bình Dương phát triển Cơ sở 2 tại Trung tâm Y tế Bắc Tân Uyên, mở rộng năng lực của cực y tế phía Bắc.
Tiếp theo sẽ là sự hiện diện của các bệnh viện chuyên khoa tại những vùng phát triển mới. Bệnh viện Tâm thần phát triển cơ sở tại khu vực Bình Dương; Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch định hướng xây dựng cơ sở tại khu vực Bà Rịa; cùng với đó là lộ trình phát triển các cơ sở của Bệnh viện Y học cổ truyền, Bệnh viện Phục hồi chức năng, Bệnh viện Mắt, Bệnh viện Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Tai Mũi Họng, Bệnh viện Da Liễu... tại các khu vực Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, phù hợp với nhu cầu dân số và định hướng phát triển của từng cực y tế.
Đây sẽ không còn là những trường hợp riêng lẻ mà sẽ trở thành xu hướng phát triển của các bệnh viện tuyến cuối trong giai đoạn tới.
Khi đó, các bệnh viện tuyến cuối không chỉ giữ vai trò trung tâm chuyên môn của Thành phố mà còn trở thành hệ thống chuyên môn phân bố trên toàn không gian đô thị, vừa dẫn dắt chuyên môn, vừa trực tiếp cung cấp dịch vụ kỹ thuật cao ngay tại các cực phát triển. Người dân sẽ không còn phải di chuyển hàng chục kilômét để tiếp cận các chuyên khoa sâu tại khu vực trung tâm; thay vào đó, các dịch vụ y tế chất lượng cao sẽ từng bước hiện diện ngay tại nơi họ sinh sống.
Đây cũng là một biểu hiện sinh động của chiến lược đa cực: không đưa người bệnh về trung tâm, mà đưa năng lực của trung tâm đến với người dân.
Trong tương lai, nhiều cơ sở mới có thể trở thành trung tâm hoạt động chính của các bệnh viện tuyến cuối, trong khi các cơ sở lịch sử ở nội thành sẽ thu gọn lại, tập trung vào khám chuyên khoa, điều trị ban ngày, đào tạo và nghiên cứu.
Đó không phải là sự dịch chuyển địa điểm, mà là sự mở rộng không gian phát triển của những bệnh viện đã đạt đến giới hạn về hạ tầng.
Đây cũng là quy luật phát triển của nhiều siêu đô thị trên thế giới.
Kết luận
Đa cực không chỉ là chiến lược phát triển ngành y tế. Đó là một phần của chiến lược phát triển đô thị hiện đại.
Khi thành phố mở rộng không gian phát triển, trường học, giao thông, logistics và y tế đều phải được tổ chức theo tư duy đa cực. Riêng đối với y tế, điều đó đồng nghĩa với việc mỗi người dân, dù sinh sống ở trung tâm hay cửa ngõ, đều có cơ hội tiếp cận dịch vụ chất lượng cao trong khoảng cách hợp lý.
Đa cực không chỉ giải quyết những thách thức của hiện tại như quá tải, khoảng cách tiếp cận hay phân bố nguồn lực, mà còn tạo ra một cấu trúc đủ linh hoạt để hệ thống y tế TP.HCM thích ứng với sự phát triển của đô thị trong nhiều thập niên tới.
Nếu đa tầng kiến tạo hành trình chăm sóc sức khỏe liên tục của người dân, đa cực kiến tạo không gian tiếp cận công bằng, thì đa trung tâm sẽ kiến tạo những đỉnh cao chuyên môn và đổi mới sáng tạo. Ba định hướng đó hợp thành một chiến lược thống nhất, tạo nền tảng để xây dựng hệ thống y tế TP.HCM hiện đại, công bằng, hiệu quả, thích ứng với sự phát triển của siêu đô thị và từng bước vươn tầm khu vực.
Nguồn
Phát triển hệ thống y tế TP.HCM theo hướng đa cực | Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh
Sau hơn hai tháng triển khai, Chương trình khám sức khỏe toàn dân tại TP.HCM tiếp tục duy trì đà tăng tốc với tuần thứ hai liên tiếp có trên 300.000 người được khám. Không chỉ gia tăng số lượng người dân được tiếp cận dịch vụ y tế, Chương trình đang chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng dữ liệu, hoàn thiện hồ sơ sức khỏe điện tử và phân tầng nguy cơ sức khỏe, tạo nền tảng để ngành y tế chủ động quản lý sức khỏe và phát hiện sớm bệnh tật cho người dân.
Đây là sản phẩm do Sở Y tế TP.HCM phối hợp với Trung tâm Chuyển đổi số Thành phố xây dựng. Hồ sơ sức khoẻ điện tử hình thành từ sự kết nối dữ liệu sức khoẻ từ Nền tảng quản lý sức khỏe cộng đồng và dữ liệu khám, chữa bệnh từ Hồ sơ bệnh án điện tử của các bệnh viện. Nhờ đó, kết quả khám sức khỏe không còn là một phiếu khám riêng lẻ mà trở thành dữ liệu sức khỏe được lưu giữ lâu dài, giúp người dân chủ động theo dõi sức khỏe của mình trong suốt cuộc đời và hỗ trợ bác sĩ nâng cao chất lượng chăm sóc, điều trị.
Tối ngày 14/6/2026, một trường hợp chấn thương nặng do tai nạn giao thông đã được cấp cứu và phẫu thuật thành công ngay tại cơ sở 2 của Bệnh viện Từ Dũ đặt tại Cần Giờ
Ngày 27/01/2026, Bệnh viện Từ Dũ phối hợp với Bệnh viện Nhi Đồng 1 đã thực hiện thành công ca can thiệp tim bào thai lần thứ 14, cứu sống một bào thai mắc dị tật tim bẩm sinh rất nặng, có nguy cơ cao tiến triển tim một thất và thai lưu nếu không được can thiệp kịp thời.
Việc thực hiện thành công 12 ca can thiệp thông tim bào thai trong thời gian qua là một dấu mốc đáng ghi nhận của Ngành Y tế TPHCM. Đây không chỉ là thành tựu chuyên môn của các ê kíp y bác sĩ trực tiếp tham gia, mà còn là kết quả của một quá trình chuẩn bị bài bản, phối hợp chặt chẽ và định hướng phát triển y tế chuyên sâu mà Ngành Y tế Thành phố kiên trì theo đuổi trong nhiều năm qua.
Ngày 6/1, Bệnh viện Từ Dũ phối hợp với Bệnh viện Nhi Đồng 1 thực hiện thành công ca thông tim can thiệp điều trị dị tật tim bẩm sinh nặng cho bào thai, đánh dấu ca can thiệp bào thai thứ 13 được triển khai thành công tại TP.HCM.



