Pap' s smear bất thường
Khoa Phụ - BV Từ Dũ
- Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc bệnh là 8/100 000, có khoảng 10 000 bệnh nhân mới mỗi năm. Các bệnh nhân này :
- 50% chưa từng được tầm soát bằng Pap's smear
- 10% trong vòng 5 năm không làm Pap's smear
- Thường xảy ra ở độ tuổi 45 đến 49
- Trên thế giới ung thư cổ tử cung đứng thứ hai trong các bệnh ung thư phụ khoa và đứng hàng thứ ba dẫn đến tử vong.
![]() |
Tầm quan trọng của Pap's smear :
- Ung thư cổ tử cung là loại ung thư dẫn đến tử vong cao nhất ở Mỹ khi chưa có Pap's smear.
- Pap's smear ra đời vào năm 1941, là một phương tiện lý tưởng để tầm soát vì :
- Ung thư cổ tử cung có một giai đoạn tiền ung kéo dài nhiều năm.
- Rẻ tiền, dễ dàng thực hiên ở bệnh nhân ngoại trú.
Yếu tố nguy cơ
- Nhiễm HPV: tình dục không an toàn, nhiều bạn tình. Hoạt đông tình dục sớm- Thuốc lá
- Suy giảm miễn dịch
- Kinh tế thấp.
- Tiền căn mắc các bệnh hoa liễu.
- Loạn sản âm đạo, âm hộ.
- Trong 5 năm chưa từng làm Pap's smear.
Khi nào có thể thực hiện Pap's smear
Theo American College of Obstetricians & Gynecologists (ACOG):
- Tầm soát thường xuyên bằng Pap's- Pap's nên bắt đầu sau 3 năm sau khi có quan hê tình dục (dưới 21) hoặc từ 21 tuổi trở đi.
- Phụ nữ dưới 30 tuổi tầm soát mỗi năm.
- Phụ nữ trên 30 tuổi tầm soát mỗi 3 năm nếu :
- Kết quả Pap's 3 lần đều âm tính
- Pap's và HPV test đều âm tính
- Đã cắt hoàn toàn tử cung vì bệnh lý lành tính hoặc đã cắt hoàn toàn tử cung mà không có tiền căn mắc bệnh ung thư.
- Đã cắt hoàn toàn tử cung có tiền căn CIN II, CIN III mà 3 lần âm tính liên tiếp.
- Phụ nữ lớn tuổi độc thân.
Theo United States Preventative Services Task Force (USPSTF ) :
Theo American Cancer Society (ACS) :
Kết quả bệnh lý
Theo 2001 Bethesda System :
* ASCUS: Atypical cells of unknown significance
Tầm soát mỗi 4 – 6 tháng, nếu 2 lần âm tính sẽ làm mỗi năm.
Nếu có HPV test :
(+) sẽ chuyển sang soi cổ tử cung.
* LSIL: Low-grade squamous intraepithelial lesion # CIN 1 => Soi cổ tử cung
* HSIL: High-grade squamous intraepithelial lesion # CIN 2, CIN 3 => Soi cổ tử cung
* AGUS: Atypical glandular cells of unknown significance => Soi cổ tử cung kèm Sinh thiết nội mạc kênh cổ tử cung
Lưu ý :
* Kết quả Pap's smear: không có tế bào, quá nhiều máu, viêm, thay đổi do phản ứng :
Lặp lại sau 1 năm
Lặp lại sau 4-6 tháng nếu :
- Tiền căn bất thường Pap's smear
- Nhiễm HPV
- Suy giảm miễn dịch
- HIV
* Đối với bệnh nhân HIV : làm Pap's mỗi 6 tháng cho đến khi âm tính 2 lần liên tiếp thì sẽ tầm soát mỗi năm
* Đối với phụ nữ hâu mãn kinh :
Không có tế bào: Lặp lại sau 1 năm
ASCUS: sử dụng estrogen gel trong 7 ngày và lặp lại Pap's
AGUS: soi cổ tử cung và nạo sinh thiết kênh CTC.
Tài liệu tham khảo :
5 Minute Consult Clinical Companion to Women's Health, The, 1st Edition , Williams Gynecology
U nhú ống tuyến vú (intraductal papilloma) là một bệnh lý lành tính khá phổ biến của tuyến vú, hình thành từ sự tăng sinh của lớp biểu mô lót bên trong các ống dẫn sữa. Sự tăng sinh này tạo nên một polyp nhỏ nằm trong lòng ống tuyến. Mặc dù đa phần là lành tính, u nhú vẫn cần được theo dõi và đánh giá cẩn thận vì một số trường hợp có thể kèm theo biến đổi tiền ung thư.
Suy buồng trứng nguyên phát (Primary Ovarian Insufficiency – POI) là tình trạng buồng trứng hoạt động kém hơn bình thường ở phụ nữ dưới 40 tuổi. Khi đó, cơ thể không sản xuất đủ hormone nữ và chu kỳ kinh nguyệt trở nên thất thường, khiến việc mang thai trở nên khó khăn hơn. Không chỉ gây rối loạn kinh nguyệt và giảm khả năng sinh sản, suy buồng trứng còn ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân như xương, tim mạch và tâm lý. Việc chẩn đoán sớm và điều trị đúng hướng giúp người bệnh giảm thiểu biến chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống và chủ động lựa chọn các phương án sinh sản phù hợp.
Suy buồng trứng nguyên phát (Primary ovarian insufficiency – POI) xảy ra khi buồng trứng ngừng hoạt động bình thường trước tuổi 40. Khi đó, buồng trứng không còn sản xuất đủ lượng hormone estrogen và không phóng noãn đều đặn. Tình trạng này thường dẫn đến vô sinh. Một tên gọi khác của suy buồng trứng nguyên phát là suy buồng trứng sớm.
Tuổi sinh sản của mỗi phụ nữ là không giống nhau, phụ thuộc vào hoạt động nội tiết và phóng noãn của buồng trứng. Thông thường, mãn kinh bắt đầu ở độ tuổi từ 45 đến 55 tuổi. Tuy nhiên ở một số phụ nữ, mãn kinh xảy ra sớm hơn.
Thông thường, trứng đã thụ tinh sẽ làm tổ ở niêm mạc tử cung. Nhưng với mang thai ngoài tử cung (còn gọi là mang thai ngoài dạ con), trứng đã thụ tinh cấy và phát triển bên ngoài tử cung của bạn, ở những vị trí như ống dẫn trứng, buồng trứng, trong ổ bụng hoặc cổ tử cung. Hơn 90% trường hợp thai ngoài tử cung bám vào ống dẫn trứng. Đây là một biến chứng mang thai nguy hiểm, có thể gây chảy máu ồ ạt, sốc và thậm chí tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Loãng xương là bệnh rất thường gặp ở phụ nữ lớn tuổi, sau mãn kinh. Hiện nay loãng xương đang có xu hướng gia tăng do tuổi thọ trung bình tăng và một số thay đổi trong lối sống khiến con người ít vận động.




