Phẫu thuật nội soi buồng tử cung
![]() Buồng TC bình thường. |
PTNS được mô tả là phẫu thuật trong đó bác sĩ dùng ống soi có gắn vào máy quay phim và nguồn sáng để nhìn vào trong buồng TC bệnh nhân.
Nội soi buồng TC có đặc điểm là: không cần mổ bụng bệnh nhân, không cần xẻ TC, không đau sau mổ, hồi phục sức khỏe nhanh, xuất viện sớm, trở lại công việc sinh hoạt hàng ngày nhanh.Nội soi buồng TC được áp dụng khi nào?
Thông thường có thể phân hai loại:
1. Nội soi buồng TC chẩn đoán:
Sau các xét nghiệm X-quang, siêu âm, nội soi buồng TC được xem là một biện pháp chẩn đoán chính xác bệnh lý tại buồng TC.

Nhân xơ dưới niêm mạc.
2. Nội soi buồng TC phẫu thuật:
Các bệnh lý được điều trị bằng nội soi buồng TC:
- Nhân xơ dưới niêm, nhân xơ lòng TC.- Polype lòng TC.
- Dính lòng TC.
- Dị vật lòng TC.
- Vách ngăn lòng TC.
- Cắt bỏ nội mạc TC.
- Đốt phá hủy nội mạc TC.…

Cắt nhân xơ dưới niêm mạc.
1. Nội soi chẩn đoán:
Bệnh nhân được tiền mê (còn tỉnh táo), bác sĩ bộc lộ cổ TC, đưa ống soi có gắn máy quay phim và nguồn sáng vào buồng TC và bơm nước làm căng dãn ra, qua đó bác sĩ nhìn thấy toàn bộ buồng TC, phát hiện các bệnh lý nếu có.
2. Nội soi phẫu thuật:
Ngay khi biết bệnh lý tại tử cung, cùng lúc bác sĩ sẽ thực hiện luôn việc điều trị.
Ví dụ:
Chăm sóc sau nội soi buồng TC như thế nào?
Vận động đi lại ngay trong 6 – 12 giờ sau phẫu thuật.
Ăn uống lại ngay sau nội soi buồng TC chẩn đoán và 12 – 24 giờ sau nội soi buồng TC phẫu thuật.
Xuất viện ngay sau nội soi buồng TC chẩn đoán và khoảng 12 – 24 giờ sau nội soi buồng TC phẫu thuật (tùy loại phẫu thuật).
Nội soi buồng TC có thể có tai biến gì?
Mặc dù hiếm gặp, nhưng cũng như các loại phẫu thuật khác, nội soi buồng TC có thể có 1 số tai biến:
- Tai biến do gây mê, dị ứng thuốc mê, tê, đặt ống thở khó khăn…- Quá tải lưu lượng máu do hấp thu nhiều nước sử dụng trong mổ.
- Chảy máu tại cổ TC, thủng TC, nhiễm trùng…
Thời điểm thực hiện nội soi buồng TC tốt nhất?
Tùy yêu cầu của loại phẫu thuật, thường là thực hiện vào tuần lễ đầu sau sạch kinh.
Khi nào không nên thực hiện nội soi buồng TC?
- Đang có nhiễm trùng đường sinh dục.
- Đang ra máu âm đạo nhiều.
- Nhân xơ ở lòng TC có kích thước >= 5cm (cần điều trị thuốc cho u xơ giảm kích thước trước)
- Có bệnh lý ác tính tại buồng TC.
- Bị dị ứng với chất dịch làm căng buồng TC (như Sorbitol, Glycocolle…)
Tuổi sinh sản của mỗi phụ nữ là không giống nhau, phụ thuộc vào hoạt động nội tiết và phóng noãn của buồng trứng. Thông thường, mãn kinh bắt đầu ở độ tuổi từ 45 đến 55 tuổi. Tuy nhiên ở một số phụ nữ, mãn kinh xảy ra sớm hơn.
Thông thường, trứng đã thụ tinh sẽ làm tổ ở niêm mạc tử cung. Nhưng với mang thai ngoài tử cung (còn gọi là mang thai ngoài dạ con), trứng đã thụ tinh cấy và phát triển bên ngoài tử cung của bạn, ở những vị trí như ống dẫn trứng, buồng trứng, trong ổ bụng hoặc cổ tử cung. Hơn 90% trường hợp thai ngoài tử cung bám vào ống dẫn trứng. Đây là một biến chứng mang thai nguy hiểm, có thể gây chảy máu ồ ạt, sốc và thậm chí tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Loãng xương là bệnh rất thường gặp ở phụ nữ lớn tuổi, sau mãn kinh. Hiện nay loãng xương đang có xu hướng gia tăng do tuổi thọ trung bình tăng và một số thay đổi trong lối sống khiến con người ít vận động.
Thai bám sẹo MLT là tình trạng thai kỳ chứa nhiều yếu tố nguy cơ cho phụ nữ. Thấu hiểu những lo lắng của bệnh nhân, BVTD mong muốn giải toả nỗi niềm này bằng bộ câu hỏi đáp cụ thể và chi tiết
Sẹo lồi (Keloid scar) là sự tăng sinh quá mức của mô sợi (collagen) sau chấn thương da.
Sẹo phát triển lan rộng ra ngoài ranh giới vết thương ban đầu, xâm lấn mô lành xung quanh, thường cứng, bóng, màu hồng chuyển sang đỏ tím, có thể kèm ngứa, đau rát.
Sẹo có xu hướng tồn tại lâu dài, khó thoái triển tự nhiên và dễ tái phát sau điều trị.
Viêm âm hộ - âm đạo do nấm là tình trạng phổ biến, ảnh hưởng đến 75% phụ nữ trong suốt cuộc đời. Khoảng 5–8% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản mắc thể tái phát được định nghĩa là ≥ 3–4 đợt/năm. Candida albicans là tác nhân chính gây viêm âm hộ - âm đạo do nấm (>90% trường hợp), nhưng các loài Candida không phải albicans, như C. glabrata và C. krusei, đang ngày càng phổ biến, đặc biệt ở bệnh nhân viêm âm hộ âm đạo do nấm tái phát.




