Phương pháp tế bào học nhuộm kép phát hiện tổn thương tiền ung thư cổ tử cung
ThS. BS. Trần Thị Liên Hương (dịch)
P. Kế hoạch tổng hợp - BV Từ Dũ
Theo kết quả nghiên cứu PALMS được thực hiện tại châu Âu, phương pháp tế bào học nhuộm kép với sự kết hợp 2 dấu ấn sinh học p16/Ki-67 giúp cải thiện khả năng phát hiện các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung, đặc biệt ở phụ nữ trẻ.
Trong bức email TS. Ruediger Ridder, Tập đoàn Y khoa Ventana, Tucson, Arizona, gửi Reuters Health có đoạn: “Ngày càng có nhiều dữ liệu và bằng chứng cho thấy sự kết hợp phương pháp tế bào học nhuộm kép p16/Ki-67 và test HPV có thể là một phương thức hiệu quả nhằm sàng lọc các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung”.
“Sự kết hợp 2 test này có thể loại trừ bệnh (giá trị tiên đoán âm) và xác định phụ nữ có tổn thương tiền ung thư (giá trị tiên đoán dương) rất hiệu quả”, TS. Ridder nói.
Biểu hiện quá mức của p16 thể hiện sự biến đổi ở tế bào kí chủ do nhiễm HPV và các tổn thương tiền ung thư, trong khi đó sự hiện diện của Ki-67 trong cùng một tế bào là dấu hiệu xác nhận sự mất điều hòa chu kỳ tế bào. Tế bào bình thường sẽ không đồng thời có sự biểu hiện của cả p16 và Ki-67.
TS. Ridder và đồng nghiệp so sánh phương pháp nhuộm kép p16/Ki-67 với Pap trên một quần thể dân số châu Âu được thực hiện sàng lọc ung thư cổ tử cung thường quy gồm 6.798 phụ nữ tuổi từ 18 đến 29 và với test HPV ở 20.450 phụ nữ từ 30 tuổi trở lên.
Theo một báo cáo online ngày 4 tháng 10 trên tạp chí của Viện Ung thư quốc gia, tỷ lệ dương tính hiện hành của test nhuộm kép là 5,4%, tương đồng với tần suất ASCUS (5,2%) và bằng một nửa tỷ lệ hiện mắc HPV (10,7%).
Dựa trên 181 trường hợp tổn thương trong biểu mô cổ tử cung từ mức độ 2 trở lên (CIN2+) đã được xác nhận qua sinh thiết, người ta thấy rằng độ nhạy của phương pháp tế bào học nhuộm kép là 86,7%, cao hơn có ý nghĩa so với Pap (68,5%). Độ đặc hiệu của phương pháp này (95,2%) tương tự Pap (95,4%).
Độ nhạy của test nhuộm kép cao hơn có ý nghĩa so với Pap ở cả 2 nhóm (18-29 tuổi và từ 30 tuổi trở lên), tuy nhiên test HPV lại nhạy hơn có ý nghĩa so với nhuộm kép (93,3% so với 84,7%) ở nhóm lớn tuổi hơn mặc dù ở nhóm này, độ đặc hiệu của test HPV thấp hơn (93,0% so với 96,2%).
Nhóm phụ nữ dưới 30 tuổi có kết quả âm tính (ngoại trừ HPV) không được soi cổ tử cung sau đó. Do đó cần thêm các dữ liệu theo dõi qua thời gian để đánh giá nguy cơ phát triển thành CIN grade cao sau khi có kết quả nhuộm kép âm tính.
Theo TS. Ridder, “ở phụ nữ lớn tuổi, phương pháp nhuộm kép có thể được dùng để chọn lọc những trường hợp có test sàng lọc HPV dương tính, những người này sẽ được lợi ích nhiều nhất nếu được soi cổ tử cung ngay lập tức sau đó để theo dõi chẩn đoán thêm. Ở phụ nữ trẻ, nhuộm kép có thể là phương pháp sàng lọc đầu tiên, test HPV là bước tiếp theo ưu tiên cho những người có test nhuộm kép dương tính”.
“Với phương pháp nhuộm kép, cộng đồng y khoa sẽ có thêm một lựa chọn mới có thể cải thiện cách thức sàng lọc ở phụ nữ nhằm phòng tránh ung thư cổ tử cung”, TS. Ridder kết luận. “Cần có sự đánh giá phương thức kết hợp các test một cách tốt nhất ở tầm quốc gia. Điều này có thể thay đổi tùy thuộc vào chương trình tầm soát hiện có và phương thức tính toán riêng ở mỗi quốc gia”.
“Để áp dụng test p16/Ki-67 trên lâm sàng, chúng ta cần phải giải quyết một số vấn đề như tính khả thi của việc thực hiện nhuộm thường quy, đào tạo và bằng cấp của nhà tế bào học và chuẩn hóa các tiêu chí trên lâm sàng”, theo TS. Mahboobeh Safaeian và TS. Mark E.Sherman – Viện Ung thư quốc gia, Bethesda, Maryland.
“Thêm vào đó, ngày càng có nhiều phụ nữ đã tiêm chủng được tầm soát, dẫn đến kết quả của test có thể thay đổi, do đó việc đánh giá lại các phương pháp là cần thiết. Tuy nhiên, việc quan trọng không kém là phát triển các phương thức tính toán sàng lọc đơn giản mà hiệu quả”.
Nguồn:
J Natl Cancer Inst 2013.
U nhú ống tuyến vú (intraductal papilloma) là một bệnh lý lành tính khá phổ biến của tuyến vú, hình thành từ sự tăng sinh của lớp biểu mô lót bên trong các ống dẫn sữa. Sự tăng sinh này tạo nên một polyp nhỏ nằm trong lòng ống tuyến. Mặc dù đa phần là lành tính, u nhú vẫn cần được theo dõi và đánh giá cẩn thận vì một số trường hợp có thể kèm theo biến đổi tiền ung thư.
Suy buồng trứng nguyên phát (Primary Ovarian Insufficiency – POI) là tình trạng buồng trứng hoạt động kém hơn bình thường ở phụ nữ dưới 40 tuổi. Khi đó, cơ thể không sản xuất đủ hormone nữ và chu kỳ kinh nguyệt trở nên thất thường, khiến việc mang thai trở nên khó khăn hơn. Không chỉ gây rối loạn kinh nguyệt và giảm khả năng sinh sản, suy buồng trứng còn ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân như xương, tim mạch và tâm lý. Việc chẩn đoán sớm và điều trị đúng hướng giúp người bệnh giảm thiểu biến chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống và chủ động lựa chọn các phương án sinh sản phù hợp.
Suy buồng trứng nguyên phát (Primary ovarian insufficiency – POI) xảy ra khi buồng trứng ngừng hoạt động bình thường trước tuổi 40. Khi đó, buồng trứng không còn sản xuất đủ lượng hormone estrogen và không phóng noãn đều đặn. Tình trạng này thường dẫn đến vô sinh. Một tên gọi khác của suy buồng trứng nguyên phát là suy buồng trứng sớm.
Tuổi sinh sản của mỗi phụ nữ là không giống nhau, phụ thuộc vào hoạt động nội tiết và phóng noãn của buồng trứng. Thông thường, mãn kinh bắt đầu ở độ tuổi từ 45 đến 55 tuổi. Tuy nhiên ở một số phụ nữ, mãn kinh xảy ra sớm hơn.
Thông thường, trứng đã thụ tinh sẽ làm tổ ở niêm mạc tử cung. Nhưng với mang thai ngoài tử cung (còn gọi là mang thai ngoài dạ con), trứng đã thụ tinh cấy và phát triển bên ngoài tử cung của bạn, ở những vị trí như ống dẫn trứng, buồng trứng, trong ổ bụng hoặc cổ tử cung. Hơn 90% trường hợp thai ngoài tử cung bám vào ống dẫn trứng. Đây là một biến chứng mang thai nguy hiểm, có thể gây chảy máu ồ ạt, sốc và thậm chí tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Loãng xương là bệnh rất thường gặp ở phụ nữ lớn tuổi, sau mãn kinh. Hiện nay loãng xương đang có xu hướng gia tăng do tuổi thọ trung bình tăng và một số thay đổi trong lối sống khiến con người ít vận động.



