Bệnh dại: Hiểu rõ để phòng tránh nguy cơ
Bệnh dại là một bệnh do vi rút gây ra, lây truyền từ động vật sang người. Mỗi năm, bệnh dại cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn người trên khắp thế giới, và đáng báo động hơn khi có đến 40% nạn nhân là trẻ em dưới 15 tuổi. Trong số các trường hợp mắc bệnh dại ở người, chó là vật chủ lây truyền vi rút trong 99% các ca bệnh. Điều đáng mừng là bệnh này hoàn toàn có thể phòng ngừa bằng vắc xin.

Bệnh dại lây truyền như thế nào?
Bệnh dại có thể lây nhiễm sang mọi loài động vật có vú, từ vật nuôi quen thuộc như chó, mèo, gia súc đến các loài động vật hoang dã. Vi rút dại lây lan sang người chủ yếu qua nước bọt, thường là khi bị động vật có mang vi rút dại cắn, cào hoặc tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc (như mắt, miệng hoặc vết thương hở). Một khi các triệu chứng lâm sàng đã xuất hiện, bệnh dại gần như gây tử vong 100%.
Triệu chứng và tiến triển của bệnh dại
Thời gian ủ bệnh dại thường kéo dài từ 2 đến 3 tháng, nhưng cũng có thể dao động từ một tuần đến một năm, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí vết thương và lượng vi rút xâm nhập. Ban đầu, các triệu chứng của bệnh dại thường không đặc hiệu, bao gồm sốt, đau và cảm giác ngứa ran, châm chích hoặc bỏng rát bất thường tại vết thương. Khi vi rút di chuyển đến hệ thần kinh trung ương, sẽ gây viêm não và tủy sống dẫn đến tử vong.
Bệnh dại được chia thành hai thể chính:
- Bệnh dại thể hung dữ: Thể bệnh này gây ra các biểu hiện như tăng động, hành vi kích động, ảo giác, sợ nước và sợ gió. Tử vong thường xảy ra sau vài ngày do ngừng tim, ngừng hô hấp.
- Bệnh dại thể liệt: Thể bệnh này chiếm khoảng 20% tổng số ca mắc ở người, tiến triển chậm hơn và thường kéo dài hơn so với thể hung dữ. Các cơ bị tê liệt dần dần, bắt đầu từ vị trí vết thương. Tình trạng hôn mê diễn tiến chậm và cuối cùng dẫn đến tử vong. Bệnh dại thể liệt thường bị chẩn đoán sai, vì vậy có thể xảy ra việc thống kê không đầy đủ về thể bệnh này.
Phòng ngừa và điều trị bệnh dại
Tử vong do bệnh dại hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng biện pháp dự phòng sau phơi nhiễm (PEP) kịp thời, giúp ngăn chặn vi rút xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương. PEP bao gồm việc:
(1) Rửa vết thương thật kỹ bằng xà phòng và nước sạch trong ít nhất 15 phút.
(2) Tiêm vắc xin phòng dại cho người theo phác đồ của Bộ Y tế.
(3) Tiêm globulin miễn dịch phòng dại (RIG) nếu có chỉ định của bác sĩ.
Nếu bạn hoặc người thân bị động vật nghi ngờ mắc bệnh dại cắn hoặc cào, hãy đến cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (PEP) kịp thời càng sớm càng tốt. Việc điều trị đúng lúc là yếu tố then chốt để cứu sống người bệnh.
Tài liệu tham khảo:
Tổ chức Y tế Thế giới: https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/rabies
Nguồn: HCDC
Ê-kíp thông tim xuyên bào thai của Bệnh viện Nhi Đồng 1 và Bệnh viện Từ Dũ cùng cô giáo Đinh Thị Kim Phấn được vinh danh Top 5 Đại sứ truyền cảm hứng tại WeChoice Awards 2025.
Ê-kíp thông tim bào thai của Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi Đồng 1 đã viết nên một chương đầy xúc động về trí tuệ, lòng can đảm và niềm tin vào sự sống tại WeChoice Awards 2025.
Theo Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tỉ lệ tử vong được ghi nhận dao động từ 40-75%, hiện chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu.
Nhân Ngày Thế giới Phòng chống Ung thư (04/02), thông điệp “Vui Tết an toàn: Giảm thiểu các hành vi nguy cơ, phòng ngừa ung thư” được phát động nhằm nhắc nhở cộng đồng về việc duy trì lối sống lành mạnh, chủ động bảo vệ sức khỏe ngay trong dịp Tết Nguyên đán.
Các loại đồ uống có đường có chứa đường tự do, khi đi vào cơ thể có thể tăng nguy cơ dẫn đến thừa cân, béo phì, dẫn đến các bệnh tim mạch và đái tháo đường tuýp 2.
Khi một người uống nước chưa đun sôi hoặc ăn các động vật thủy sinh sống trong ao hồ, sông suối (như cá, cua, rắn, ếch) chưa được nấu chín, họ có thể vô tình nuốt phải bọ chét nước mang ấu trùng giun rồng. Các ấu trùng này sau đó phát triển trong cơ thể người và cuối cùng chui ra ngoài qua da. Quá trình giun chui ra qua da thường gây phồng rộp, sưng tấy và đau đớn.



