Hành trình cứu con của sản phụ có thai nhi mắc bệnh tim hiểm nghèo
Lập gia đình hơn ba năm, chị T.N.Đ mang thai tự nhiên nhưng bị thai lưu khi thai được 8-9 tuần. Ba tháng sau, chị có thai lại và phát hiện ở tuần thứ 6-7.
Trong suốt thai kỳ, chị Đ. khám thai định kỳ tại cơ sở y tế ngoài bệnh viện, thực hiện đầy đủ các xét nghiệm sàng lọc cho mẹ và bé theo chỉ định, tất cả kết quả đều trong giới hạn bình thường.
Ngày 2/8, ở tuần thai 19 tuần 4 ngày, khi siêu âm hình thái, bác sĩ phát hiện sớm bất thường ở tim thai, nghi ngờ hẹp van động mạch phổi.
Ngày 12/8, chị đến Trung tâm Can thiệp bào thai, khoa Chăm sóc trước sinh – Bệnh viện Từ Dũ để khám và tư vấn. Thai được 20 tuần 4 ngày, chẩn đoán hẹp van động mạch phổi mức độ trung bình, kèm ruột echo dày sáng. Sau khi chọc ối, kết quả không ghi nhận bất thường nhiễm sắc thể, xét nghiệm TORCH âm tính.

Các bác sĩ theo dõi sát tiến triển tim thai, hẹn siêu âm định kỳ mỗi hai tuần. Đến tuần thứ 27, tình trạng tim bé diễn tiến nặng: mất cân đối rõ giữa bốn buồng tim, thất phải hẹp và thiểu sản, mất dần chức năng co bóp, kèm hở van ba lá nặng – khi thất phải co bóp, máu trào ngược qua van ba lá lên nhĩ phải thay vì đi lên động mạch phổi.
Đến hơn 29 tuần, bác sĩ xác định hẹp van động mạch phổi – thiểu sản thất phải đã tiến triển từ mức độ trung bình sang nặng, có nguy cơ chuyển sang “tim một thất”. Tiên lượng cho thấy nguy cơ tử vong sau sinh rất cao nếu không được ghép tim ngay, đồng thời nguy cơ thai lưu vượt 40% nếu không can thiệp kịp thời. Chị Đ. được tư vấn về khả năng can thiệp bào thai để cứu em bé.
Chiều 13/10, chị nhập viện Bệnh viện Từ Dũ với chẩn đoán thai 29 tuần 5 ngày, hẹp van động mạch phổi nặng diễn tiến đến không lỗ van, thiểu sản thất phải, hở van ba lá nặng – được chỉ định can thiệp khẩn.
Sáng 14/10, trong buổi hội chẩn liên viện giữa Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi Đồng 1, các chuyên gia thống nhất đây là trường hợp tim bẩm sinh diễn tiến nhanh, cần can thiệp cấp cứu.

14h cùng ngày, ca phẫu thuật được tiến hành. Ban đầu, ê-kíp xác định tư thế thai chưa thuận lợi do thai nằm sấp hoàn toàn, nên thực hiện kỹ thuật xoay thai. Sau 10 phút kiên trì, thai được xoay về tư thế ngửa, mỏm tim hướng lên trên. Bé được gây mê, giảm đau, sẵn sàng cho can thiệp.
Ê-kíp sử dụng kim 18G, xuyên qua thành bụng mẹ, cơ tử cung và thành ngực thai, đi chính xác vào buồng thất phải – nơi chỉ rộng khoảng 6 mm do thiểu sản nặng. Một hệ thống gồm dây dẫn (guidewire) và bóng nong chuyên dụng được đưa qua kim, luồn qua van động mạch phổi rồi tiến hành nong ba lần, mỗi lần đều kiểm tra dòng máu qua van để đánh giá hiệu quả.
Khi xác định van được mở tối ưu, dòng máu phụt qua động mạch phổi rõ trên siêu âm, ê-kíp rút toàn bộ dụng cụ an toàn. Ca mổ kết thúc sau 80 phút – được xem là một trong những ca can thiệp bào thai nhanh nhất từng thực hiện tại Bệnh viện Từ Dũ.

Sau phẫu thuật, chị Đ. được theo dõi đặc biệt để phát hiện sớm các biến chứng như rối loạn nhịp tim thai (nhịp nhanh, nhịp chậm), dọa sinh non, nhau bong non, nhiễm trùng hoặc xuất huyết. Các bác sĩ theo dõi liên tục bằng máy monitoring, siêu âm tim thai sau 30 phút, 2 giờ, 12 giờ; đồng thời điều trị dự phòng sinh non bằng thuốc cắt cơn gò.
Hiện sau 24 giờ can thiệp, tình trạng sản phụ ổn định, tinh thần phấn khởi khi biết em bé được cứu thành công. Tim thai hoạt động tốt, không có cơn gò, không đau trằn bụng, thai máy bình thường.
Ca can thiệp tim thai thành công này là trường hợp thứ 11 trong chuỗi chương trình hợp tác giữa Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi Đồng 1, đánh dấu bước tiến quan trọng trên hành trình hoàn thiện hồ sơ pháp lý để Bộ Y tế đưa kỹ thuật “Thông tim can thiệp trong bào thai” vào danh mục kỹ thuật chính thức đầu tiên của Việt Nam.
Thành công này mở ra cơ hội cho ngày càng nhiều thai nhi mắc bất thường tim được tiếp cận kỹ thuật tiên tiến, tăng khả năng sống và phát triển khỏe mạnh sau sinh.
Đây cũng là thành tích chuyên môn tiêu biểu chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ TP.HCM lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030, khẳng định năng lực và khát vọng vươn tầm của y học sản – nhi Việt Nam.
Sự kiện mang ý nghĩa đặc biệt này không chỉ là thành tựu y khoa, mà còn là dấu mốc ghi nhận nỗ lực bền bỉ suốt 9 năm của đội ngũ y bác sĩ Bệnh viện Từ Dũ và ê-kíp thông tim Bệnh viện Nhi Đồng 1 trong việc nghiên cứu, triển khai và hoàn thiện các kỹ thuật can thiệp bào thai.
Nguồn:
Hành trình cứu con của sản phụ có thai nhi mắc bệnh tim hiểm nghèo
Sau 60 ngày sửa chữa, tòa nhà khu A gần 100 tuổi ở Bệnh viện Từ Dũ khánh thành với diện mạo khang trang trong khi vẫn giữ nét kiến trúc cũ.
Khu A là một trong những tòa nhà lâu đời của Bệnh viện Từ Dũ, mang dấu ấn kiến trúc Pháp, gắn với nhiều thế hệ thầy thuốc và người bệnh. Công trình được sửa chữa, nâng cấp với kinh phí khoảng 17 tỷ đồng, khánh thành hôm 29/9 với hơn 300 giường bệnh được bố trí lại theo hướng tăng không gian riêng tư và cải thiện điều kiện sinh hoạt. Khu vực này hiện là nơi hoạt động của ba khoa gồm Sơ sinh, Sản A và Sản M.
Mang dấu ấn kiến trúc Pháp cổ kính, gần một thế kỷ tồn tại giữa lòng TP.HCM, tòa nhà khu A Bệnh viện Từ Dũ được "thay áo mới" khang trang, tiện nghi, thân thiện nhưng vẫn giữ những giá trị kiến trúc đặc trưng công trình gần trăm tuổi.
Người bệnh có thể cảm giác khối phồng ở vùng âm đạo, đau, nặng vùng chậu, són tiểu hoặc són phân. Són tiểu thường xảy ra khi ho, hắt hơi, cười, vận động hoặc mắc tiểu đột ngột, không kịp vào nhà vệ sinh. Một số người vì vậy hạn chế đi chơi, đi du lịch, thậm chí phải mang tã.
Theo bác sĩ, phụ nữ Việt khi gặp phải vấn đề sa tạng chậu thường cảm thấy xấu hổ và âm thầm chịu đựng. Hậu quả là nhiều trường hợp khi vào viện đã sa toàn bộ tử cung ra ngoài.
Phụ nữ Việt Nam vẫn có tâm lý e ngại, xấu hổ khi gặp các vấn đề liên quan vùng kín, tiểu tiện, đại tiện nên ít chia sẻ với người thân và thường đi khám muộn
Bệnh viện Từ Dũ vừa phối hợp với Hội Gây mê Hồi sức TPHCM tổ chức Hội nghị Gây mê hồi sức sản phụ khoa 2026 nhằm tạo không gian trao đổi chuyên môn giữa các bác sĩ gây mê hồi sức, sản phụ khoa và các chuyên ngành liên quan, qua đó góp phần nâng cao năng lực xử trí những tình huống sản khoa nguy cơ cao và tiếp tục cải thiện chất lượng chăm sóc, điều trị người bệnh.



