Mối liên quan giữa Fluconazole và sự gia tăng nguy cơ các dị tật bẩm sinh hiếm gặp
ThS. BS. Trần Thị Liên Hương (Dịch)
P. Kế hoạch tổng hợp - BV Từ Dũ
Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí New England Journal of Medicine ngày 29 tháng 8, một cuộc khảo sát đã được tiến hành trên gần 1 triệu hồ sơ sinh cho thấy nguy cơ mắc tứ chứng Fallot tăng gấp 3 lần ở những trẻ có mẹ từng dùng Fluconazole trong tam cá nguyệt đầu của thai kỳ.
Nghiên cứu này cho thấy không có mối liên hệ giữa thuốc kháng nấm và 14 dị tật thai nhi khác trước đây từng được cho rằng có liên quan. Tuy nhiên, Thạc sĩ Ditte Mølgaard-Nielsen và đồng nghiệp đến từ Trung tâm nghiên cứu dịch tễ học, Copenhagen, Đan Mạch chỉ ra rằng việc dùng liều thông thường của Fluconazole trong tam cá nguyệt đầu có nguy cơ dẫn đến tứ chứng Fallot với OR hiệu chỉnh là 3.16 (khoảng tin cậy 95% 1.49 – 6.71). Nguy cơ tuyệt đối của tứ chứng Fallot vẫn thấp, với khoảng 6.5 trường hợp trong 10,000 trẻ phơi nhiễm với thuốc kháng nấm (khoảng tin cậy 95% 1.5 – 1.7).
OR được hiệu chỉnh theo năm, đặc điểm nhân khẩu học, biến động kinh tế xã hội, tình trạng hút thuốc lá, tiền căn thai kỳ dị tật, các đồng yếu tố chọn lọc và việc điều trị với kháng sinh uống, thuốc ức chế miễn dịch, corticosteroid uống, thuốc chống động kinh, thuốc ngừa thai uống hoặc thuốc dùng trong IVF.
Các nhà nghiên cứu khảo sát tần suất của 15 trường hợp dị tật bẩm sinh trong 976,300 trường hợp sinh sống tại Đan Mạch (theo dữ liệu của Medical Birth Registry) từ ngày 1 tháng 1 năm 1996 đến 31 tháng 3 năm 2011 và so sánh tỷ lệ hiện mắc dị tật bẩm sinh ở trẻ sơ sinh từng phơi nhiễm với Fluconazole liều thông thường trong thời kỳ bào thai với tỷ lệ hiện mắc của trẻ không phơi nhiễm.
Kết quả cho thấy không có mối liên hệ giữa Fluconazole dùng đường uống liều 150 mg (chiếm 56% bà mẹ từng dùng Fluconazole) và liều 300 mg với 14 trong 15 trường hợp dị tật. 14 trường hợp dị tật bao gồm tật thóp đóng sớm, các dị tật sọ mặt khác, dị tật tai giữa, chẻ vòm hầu, sứt môi, dị tật chi, thừa ngón, dính ngón, thoát vị hoành, dị tật tim chung, thiểu sản động mạch phổi, khiếm khuyết vách liên thất và thiểu sản tim trái.
Có 210 trường hợp dị tật bẩm sinh được báo cáo trong số 7352 thai kỳ phơi nhiễm với Fluconazole (tỷ lệ hiện mắc 2.86%), so sánh với 25,159 trường hợp dị tật bẩm sinh trong số 968,236 thai kỳ không phơi nhiễm (tỷ lệ hiện mắc là 2.60%). Khác biệt về dị tật bẩm sinh ở 2 nhóm là có ý nghĩa. Tính toán nguy cơ mắc dị tật bẩm sinh cho thấy kết quả này không thay đổi giữa 3 nhóm liều Fluconazole (150, 300 và từ 350 đến 6000 mg).
Ở bước phân tích tiếp theo, các tác giả cho thấy không có sự gia tăng nguy cơ có ý nghĩa đối với dị tật nói chung trong nhóm bà mẹ phơi nhiễm với 2 azole kháng nấm khác là itraconazole (687 thai kỳ) và ketoconazole (72 thai kỳ).
“Vì vậy mà các kết quả từ nghiên cứu này có tác dụng trấn an rộng rãi. Tuy nhiên, tất cả các phân tích đều cho thấy nguy cơ mắc tứ chứng Fallot tăng gấp 3 lần sau khi phơi nhiễm với Fluconazole”, tác giả viết.
Tác giả cũng lưu ý là những nghiên cứu trước về mối liên hệ của Fluconazole với các dị tật bẩm sinh nói chung, chủ yếu trên phụ nữ từng dùng liều duy nhất 150 mg với tổng số 1650 thai kỳ có phơi nhiễm, trong khi nghiên cứu này đánh giá trên 7352 thai kỳ phơi nhiễm.
Nguồn:
N Engl J Med. 2013;369:830-839.
http://www.medscape.com/viewarticle/810149
Sau 60 ngày sửa chữa, tòa nhà khu A gần 100 tuổi ở Bệnh viện Từ Dũ khánh thành với diện mạo khang trang trong khi vẫn giữ nét kiến trúc cũ.
Khu A là một trong những tòa nhà lâu đời của Bệnh viện Từ Dũ, mang dấu ấn kiến trúc Pháp, gắn với nhiều thế hệ thầy thuốc và người bệnh. Công trình được sửa chữa, nâng cấp với kinh phí khoảng 17 tỷ đồng, khánh thành hôm 29/9 với hơn 300 giường bệnh được bố trí lại theo hướng tăng không gian riêng tư và cải thiện điều kiện sinh hoạt. Khu vực này hiện là nơi hoạt động của ba khoa gồm Sơ sinh, Sản A và Sản M.
Mang dấu ấn kiến trúc Pháp cổ kính, gần một thế kỷ tồn tại giữa lòng TP.HCM, tòa nhà khu A Bệnh viện Từ Dũ được "thay áo mới" khang trang, tiện nghi, thân thiện nhưng vẫn giữ những giá trị kiến trúc đặc trưng công trình gần trăm tuổi.
Người bệnh có thể cảm giác khối phồng ở vùng âm đạo, đau, nặng vùng chậu, són tiểu hoặc són phân. Són tiểu thường xảy ra khi ho, hắt hơi, cười, vận động hoặc mắc tiểu đột ngột, không kịp vào nhà vệ sinh. Một số người vì vậy hạn chế đi chơi, đi du lịch, thậm chí phải mang tã.
Theo bác sĩ, phụ nữ Việt khi gặp phải vấn đề sa tạng chậu thường cảm thấy xấu hổ và âm thầm chịu đựng. Hậu quả là nhiều trường hợp khi vào viện đã sa toàn bộ tử cung ra ngoài.
Phụ nữ Việt Nam vẫn có tâm lý e ngại, xấu hổ khi gặp các vấn đề liên quan vùng kín, tiểu tiện, đại tiện nên ít chia sẻ với người thân và thường đi khám muộn
Bệnh viện Từ Dũ vừa phối hợp với Hội Gây mê Hồi sức TPHCM tổ chức Hội nghị Gây mê hồi sức sản phụ khoa 2026 nhằm tạo không gian trao đổi chuyên môn giữa các bác sĩ gây mê hồi sức, sản phụ khoa và các chuyên ngành liên quan, qua đó góp phần nâng cao năng lực xử trí những tình huống sản khoa nguy cơ cao và tiếp tục cải thiện chất lượng chăm sóc, điều trị người bệnh.



