Xét nghiệm C-Reactive Protein (CRP)
Để xác định sự hiện diện của viêm và để theo dõi sự đáp ứng với điều trị (Ghi chú: một xét nghiệm nhạy hơn (hs-CRP) sẽ được sử dụng để tìm nguy cơ tim mạch.)
2. Khi nào cần thử?
3. Lấy mẫu ra sao?
Lấy mẫu máu từ tĩnh mạch ở tay.
4. Xét Nghiệm CRP là gì?
5. Khi nào cần thử CRP?
Xét nghiệm CRP có ích trong đánh giá các bệnh lý sau:
- Xét nghiệm C Bệnh viêm loét đại tràng
- Một số dạng viêm khớp
- Các bệnh tự miễn
- Viêm nhiễm vùng tiểu khung (Pelvic Inflammatory Disease)
- Viêm ruột thừa?
CRP có thể được dùng để tầm soát những bệnh sau đây ở người có bề ngoài khoẻ mạnh, tuy nhiên, trong những trường hợp này, nên dùng xét nghiệm hs-CRP (high-sensitivity CRP) vì có độ nhạy cao hơn:
- Bệnh mạch vành tim (CHD)
- Bệnh tim mạch
6. Khi nào cần xét nghiệm?
- Do CRP tăng trong những trường hợp viêm nặng, xét nghiệm sẽ được chỉ định khi có nguy cơ viêm cấp (như nhiễm trùng sau phẫu thuật) hoặc khi có nghi ngờ dựa trên các triệu chứng của bệnh nhân.
- Xét nghiệm cũng được chỉ định để giúp đánh giá các bệnh lý như viêm khớp dạng thấp, lupus, và thường được lập lại nhiều lần để đánh giá hiệu quả điều trị.
- Xét nghiệm đặc biệt hiệu quả cho việc theo dõi những tình trạng viêm nhiễm vì lượng CRP sẽ giảm khi viêm nhiễm thoái lui.
7. Ý nghĩa các kết quả của xét nghiệm CRP?
- Lượng CRP tăng cao trong máu gợi ý cho thấy có viêm nhiễm cấp.- Lượng CRP trong máu giảm xuống có nghĩa là tình trạng bệnh nhân tốt hơn và tình trạng viêm nhiễm giảm.
8. Có cần bổ sung thêm điều gì nữa về CRP?
Nguồn:
KS. Phạm Đức Thọ (Dịch)
Khoa Xét nghiệm – BV Từ Dũ
Từ ngày 15 đến 17-1, Bệnh viện Từ Dũ phối hợp trực tiếp với Hội Nội soi phụ khoa châu Âu (ESGE) tổ chức chương trình đào tạo phẫu thuật nội soi phụ khoa theo chuẩn GESEA của châu Âu
Y học Việt Nam không thiếu kỹ năng chuyên môn, nhưng còn thiếu hệ thống chứng nhận quốc tế để khẳng định vị thế trên bản đồ y học toàn cầu.
Mặc dù sở hữu đội ngũ y bác sĩ có tay nghề chuyên môn cao và bề dày kinh nghiệm, nhưng y học Việt Nam vẫn đang thiếu đi những hệ thống chứng nhận quốc tế để thực sự khẳng định vị thế của mình trên bản đồ toàn cầu.
Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ cho biết, nơi này đã triển khai phẫu thuật nội soi phụ khoa từ năm 1990, nhưng 2 năm trước vẫn phải cử phẫu thuật viên tham gia khóa đào tạo nội soi cơ bản ở nước ngoài.
Chiều 15.1.2026, Bệnh viện Từ Dũ cho biết đã xử trí thành công một trường hợp song thai có biến chứng đặc biệt phức tạp, trong đó một thai phải đình chỉ do dị tật nặng, nhưng thai còn lại vẫn được dưỡng thai kéo dài hơn 8 tuần và chào đời an toàn một kết quả hiếm gặp, vượt xa các ghi nhận trong y văn thế giới.
Theo Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ Trần Ngọc Hải, nội soi phải được chuẩn hóa và thống nhất kỹ thuật theo chuẩn mực toàn cầu để mang lại lợi ích cho người bệnh.



