Các kháng sinh thuộc nhóm penicillin các tương đồng và khác biệt
ThS.DS.Nguyễn Hoàng Linh Đan
(Lược dịch)
Kháng sinh beta-lactam là nhóm kháng sinh lớn nhất, trong đó bao gồm nhóm penicillin, nhóm cephalosporin và nhóm carbapenem. Bài viết này cung cấp thông tin tổng quan về phân loại các kháng sinh thuộc nhóm penicillin và phổ kháng khuẩn, so sánh các điểm tương đồng và khác biệt để cá thể hóa trong điều trị.
Phân loại
- Penicillin G
- Antistaphylococcal penicillin (penicillin có tác dụng trên tụ cầu), bao gồm: nafcillin, oxacillin, cloxacillin và dicloxacillin
- Penicillin phổ rộng: thế hệ 2 (ampicillin, amoxicillin), thế hệ 3 (carbenicillin, ticarcillin) và thế hệ 4 (piperacillin)
Phổ kháng khuẩn
1) Penicillin G
Có hoạt lực tốt trên:
- Cầu khuẩn Gram dương. Không có tác dụng trên các chủng tụ cầu tiết penicillinase, tụ cầu kháng oxacillin, các chủng phế cầu khuẩn kháng penicillin và một số chủng enterococci.
- Trực khuẩn Gram dương, ví dụ: Listeria.
- Cầu khuẩn Gram âm, ví dụ: Neisseria spp (trừ chủng Neisseria tiết penicillinase).
- Hầu hết các vi khuẩn kỵ khí (trừ chủng Bacteroides).
Penicillin G chỉ có tác dụng kiềm khuẩn đối với các enterococci. Hơn nữa, các nghiên cứu cho thấy đã có nhiều chủng tiết penicillinase dẫn đến sự gia tăng đề kháng đáng kể. Do đó, các nhiễm trùng nặng gây ra bởi các enterococci thường được điều trị sử dụng kháng sinh phối hợp: 1 kháng sinh tác dụng trên vách tế bào (ví dụ: penicillin, ampicillin, vancomycin) phối hợp với gentamicin hoặc streptomycin (nếu kết quả kháng sinh đồ còn nhạy với kháng sinh này). Penicillin G không tác dụng trên các trực khuẩn Gram âm vì không có khả năng xuyên qua các kênh porin ở màng ngoài tế bào của họ vi khuẩn này.
2) Antitstaphylococcal penicillin
Antitstaphylococcal penicillin bao gồm nafcillin, oxacillin, cloxacillin và dicloxacillin. Các kháng sinh penicillin này có hoạt lực rất tốt trên tụ cầu, bao gồm cả các chủng tụ cầu tiết men penicillinase. Dù vậy, các kháng sinh antistaphylococcal penicillin vẫn không có tác dụng đối với các tụ cầu kháng oxacillin (kháng methicillin).
Cần lưu ý rằng đối với các tụ cầu nhạy với oxacillin thì các kháng sinh thuộc nhóm antistaphylococcal penicillin hoặc cefazolin là lựa chọn điều trị tốt nhất, có kết quả in vitro và kết quả trên lâm sàng tốt hơn, kể cả so với vancomycin.
Antistaphylococcal penicillin có ít hoạt lực hơn penicillin G đối với các chủng vi khuẩn nhạy với cả hai loại kháng sinh này và không có hoạt lực trên các chủng vi khuẩn enterococci, Listeria, Neisseria spp.
3) Penicillin phổ rộng
Penicillin phổ rộng được phân biệt rõ ràng so với các kháng sinh cùng họ penicillin thông qua phổ kháng khuẩn tăng thêm trên trực khuẩn Gram âm. Nhóm kháng sinh penicicillin phổ rộng được chia thành các thế hệ bao gồm: thế hệ 2 (ampicillin, amoxicillin), thế hệ 3 (carbenicillin, ticarcillin) và thế hệ 4 (piperacillin). Tất cả các kháng sinh phổ rộng đều không có tác dụng trên tụ cầu tiết men penicillinase.
Penicillin phổ rộng thế hệ 2 (ampicillin, amoxicillin) có khả năng thấm qua các kênh porin của màng ngoài ngoài tế bào của vi khuẩn Gram âm. Các kháng sinh này có phổ kháng khuẩn trên Escherichia coli, Proteus mirabilis, Salmonella, Shigella và Haemophilus influenza. Mặc dù Amoxicillin và ampicillin có phổ kháng khuẩn tương tự với nhau nhưng amoxicillin được hấp thụ qua đường uống nhiều hơn, cho nồng độ thuốc trong huyết thanh và trong nước tiểu cao hơn, do đó thường được lụa chọn hơn khi sử dụng kháng sinh đường uống.
Penicillin phổ rộng thế hệ 3 (carbenicillin, ticarcillin) có thêm nhóm carboxy giúp các kháng sinh này ổn định hơn đối với men beta-lactamase tiết ra bởi một số vi khuẩn, bao gồm: các chủng Proteus indole dương, các chủng Enterobacter, và Pseudomonas aeruginosa. Carbenicillin indanyl là dạng bào chế được hấp thu tốt qua đường uống và có thể được chỉ định trong điều trị nhiễm trùng tiểu gây ra bởi vi khuẩn đề kháng kháng sinh. Carbenicillin đường uống chỉ có tác dụng điều trị trong nhiễm trùng tiểu. Carbenicillin ở các dạng bào chế khác (sử dụng ngoài đường uống) không được sử dụng tại Hoa kỳ. Ticarcillin có phổ kháng khuẩn tương tự như carbencillin, nhưng hoạt tính gấp 2-4 lần trên Pseudomonas aeruginosa dựa trên trọng lượng phân tử. Liều tối đa thông thường là 18g/ngày. Ticarcillin được bào chế dưới dạng muối disodium có thể gây nặng tình trạng bệnh đối với các bệnh nhân quá tải dịch. Kháng sinh này cũng có thể dẫn đến nguy cơ chảy máu vì ức chế tiểu cầu.
Penicillin phổ rộng thế hệ 4 (Piperacillin) có phổ kháng khuẩn tương tự như carbenicillin và ticarcillin, nhưng hoạt lực cao hơn in vitro. Piperacillin cũng có phổ kháng khuẩn gia tăng thêm trên một số chủng Klebsiella, nhưng kháng sinh thuộc nhóm cephalosporin vẫn là kháng sinh đầu tay điều trị vi khuẩn này. Piperacillin có hoạt lực tốt hơn carbenicillin và ticarcillin đối với Enterococci spp., Enterobacteriaceae, Bacteroides fragilis và có hoạt lực tốt hơn ticarcillin trên Pseudomonas aeruginosa.
Tóm tắt
v Penicillin G có hoạt lực tốt đối với tụ cầu khuẩn Gram âm và Gram dương, trực khuẩn Gram dương, ngoại trừ những vi khuẩn đã phát triển cơ chế đề kháng với penicillin và một số chủng vi khuẩn kỵ khí tiết men beta-lactamase, ví dụ như Bacteroides. Penicillin chỉ có tác dụng kiềm khuẩn đối với các enterococci.
v Đối với các chủng Staphylococcus aureus nhạy với oxacillin, các kháng sinh antistaphylococcal penicillin hoặc cefazolin sẽ là lựa chọn đầu tay so với vancomycin vì kết quả tốt hơn in vitro và trong nghiên cứu lâm sàng.
v Kháng sinh penicillin phổ rộng có hoạt lực tốt hơn penicillin G trên những trực khuẩn Gram âm, nhưng cũng bị phân hủy bởi men beta-lactamase.
Tài liệu tham khảo
Alyssa RL. Penicillin, antistaphylococcal penicillins, and broad spectrum penicillins. In: UpToDate. Allyson B (Ed), UpToDate, Waltham, MA. (Accessed on 9th April, 2022.)
Lựa chọn biện pháp tránh thai không chỉ dựa trên hiệu quả tránh thai mà còn phải cân nhắc tình trạng sức khỏe, nguy cơ huyết khối – tim mạch, thời điểm sử dụng sau sinh, tình trạng cho con bú, các thuốc dùng đồng thời và mong muốn của người sử dụng.
Tiêm chủng là một phần thiết yếu trong chăm sóc sức khỏe dự phòng cho người lớn, bao gồm cả phụ nữ có thai (PNCT). Từ năm 2023, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) và Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo các thai phụ từ 18 tuổi trở lên nên được sàng lọc bằng xét nghiệm ba chỉ số (HBsAg, anti-HBs và anti-HBc), nếu chưa thực hiện trước đó, để xác định đối tượng dễ mắc bệnh và cần tiêm phòng.
Điều trị nôn và buồn nôn trong thai kỳ (nausea and vomiting of pregnancy- NVP) nhằm các mục tiêu chính: giảm mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống, điều chỉnh tình trạng giảm thể tích tuần hoàn, ceton niệu và rối loạn điện giải. Đồng thời, các biện pháp can thiệp cần ngăn ngừa biến chứng nghiêm trọng của nôn kéo dài như thiếu hụt vitamin hoặc giảm cân, trong khi vẫn đảm bảo tối thiểu hóa ảnh hưởng của thuốc đối với thai nhi.
HPV (Human Papillomavirus – HPV) là một trong số tác nhân gây ra bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất tại Hoa Kỳ. Nhiễm các chủng HPV nguy cơ cao có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung, gây tử vong cho khoảng 250.000 phụ nữ mỗi năm trên toàn cầu. Virus này còn gây ung thư hầu họng (đặc biệt vùng gốc lưỡi và amidan), ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật và hậu môn. Một số chủng khác còn gây ra mụn cóc sinh dục.
Việc kê đơn kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú luôn tiềm ẩn nguy cơ đối với trẻ bú mẹ. Mặc dù, các dữ liệu cho thấy đa số kháng sinh, kháng nấm thường sử dụng, có thể bài tiết vào sữa mẹ nhưng ít gây hại đến trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, vẫn có quan điểm về việc ngưng cho con bú mẹ hoặc trì hoãn điều trị không phù hợp. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của người phụ nữ và ảnh hưởng đến lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ. Do đó, việc xây dựng nguồn thông tin về tính an toàn của nhóm thuốc này đối với phụ nữ cho con bú là rất cần thiết. Đây sẽ là nguồn dữ liệu tham khảo đáng tin cậy để tư vấn và sử dụng kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú. Qua đó, góp phần vào việc sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và hợp lý trên đối tượng người bệnh là phụ nữ đang trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ.
Báo cáo hoạt động theo dõi adr năm 2025 của Bệnh viện Từ Dũ



