Chế độ ăn nhiều trái cây và rau quả giúp giảm các triệu chứng mãn kinh
Ds Thân Thị Mỹ Linh – Khoa Dược
(lược dịch)
Theo tác giả Lisa Rapaport đăng tải online trên tạp chí Reuters Health ngày 26 tháng 11 năm 2018, phụ nữ ăn nhiều trái cây và rau quả có thể ít gặp các triệu chứng thể chất và tinh thần liên quan đến thời kỳ mãn kinh hơn những người thích ăn đồ ngọt, chất béo và đồ ăn vặt.
Một nghiên cứu khảo sát 400 phụ nữ đã qua thời kỳ mãn kinh về thói quen ăn uống, mức độ thường xuyên xuất hiện các triệu chứng như bốc hỏa, đổ mồ hôi đêm, các vấn đề về cơ và khớp và các vấn đề về bàng quang.
Nhóm nghiên cứu cũng xác định được ba chế độ ăn uống điển hình: chế độ ăn uống nhiều trái cây và rau quả; chế độ ăn uống nhiều nhiều mayonnaise, dầu, kẹo và đồ ngọt; và chế độ ăn nhiều thực phẩm béo và đồ ăn vặt.
Sau đó, các nhà nghiên cứu đã sắp xếp phụ nữ thành các nhóm theo cách họ tuân thủ chặt chẽ một trong ba mô hình chế độ ăn uống này. So với những phụ nữ ăn ít trái cây và rau quả nhất, những phụ nữ sử dụng nhiều rau xanh nhất cho thấy ít xuất hiện các tác động của mãn kinh đến sức khỏe thể chất và tinh thần.
Ngược lại, những phụ nữ ăn nhiều thực phẩm béo và đồ ăn vặt thường gặp phải các triệu chứng mãn kinh làm suy giảm chất lượng cuộc sống và ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần.
Chế độ ăn giàu chất béo đặc biệt các loại chất béo giàu carbohydrate, chất béo không tốt (chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa), hàm lượng chất xơ thấp có thể làm tăng sinh các chất gây viêm và trọng lượng cơ thể. Đây là những chất có liên quan đến các triệu chứng mãn kinh.
Mặt khác, trái cây và rau quả ít chất béo là nguồn cung cấp vi chất, chất chống oxy hóa tốt giúp giảm phản ứng viêm và duy trì trọng lượng cơ thể khỏe mạnh trong thời kỳ mãn kinh. Trái cây và rau quả cũng rất giàu chất xơ giúp thay đổi quá trình chuyển hóa estrogen và làm giảm sự thay đổi nồng độ estrogen, từ đó làm giảm nguy cơ xuất hiện các triệu chứng.
Béo phì, ít hoạt động, hút thuốc và uống rượu đều có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc các triệu chứng mãn kinh nghiêm trọng hoặc tần suất xuất hiện thường xuyên hơn.
Một số nghiên cứu trước đây cũng đã cho thấy mối liên quan giữa chế độ ăn ít chất béo và nhiều ngũ cốc, trái cây và rau quả với việc giảm tần suất xuất hiện cơn bốc hỏa và đổ mồ hôi vào ban đêm.
Trong nghiên cứu hiện tại, những người tham gia thường ở độ tuổi 55-59, đã qua thời kỳ mãn kinh khoảng 7 đến 9 năm trước. Họ có các đặc điểm như béo phì hoặc thừa cân và hầu hết đã kết hôn, góa hoặc ly dị.
Nghiên cứu không thể chứng minh liệu thói quen ăn uống cụ thể có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các triệu chứng mãn kinh hay không. Một hạn chế khác là nhóm phụ nữ trong nghiên cứu quá nhỏ để đưa ra kết luận rộng rãi về việc chế độ ăn uống có thể ảnh hưởng đến các triệu chứng mãn kinh như thế nào. Tuy nhiên, hạn chế ăn chất béo và đồ ngọt có thể có lợi cho sức khỏe; tăng cường sử dụng thực phẩm như trái cây và rau quả tươi, đặc biệt rau lá xanh và ngũ cốc vào ngũ cốc vì nó không chỉ giúp giảm các triệu chứng mãn kinh mà còn giúp ngăn ngừa tăng cân và một số bệnh mà phụ nữ mãn kinh có nguy cơ mắc phải cao.
Tài liệu tham khảo
Lựa chọn biện pháp tránh thai không chỉ dựa trên hiệu quả tránh thai mà còn phải cân nhắc tình trạng sức khỏe, nguy cơ huyết khối – tim mạch, thời điểm sử dụng sau sinh, tình trạng cho con bú, các thuốc dùng đồng thời và mong muốn của người sử dụng.
Tiêm chủng là một phần thiết yếu trong chăm sóc sức khỏe dự phòng cho người lớn, bao gồm cả phụ nữ có thai (PNCT). Từ năm 2023, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) và Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo các thai phụ từ 18 tuổi trở lên nên được sàng lọc bằng xét nghiệm ba chỉ số (HBsAg, anti-HBs và anti-HBc), nếu chưa thực hiện trước đó, để xác định đối tượng dễ mắc bệnh và cần tiêm phòng.
Điều trị nôn và buồn nôn trong thai kỳ (nausea and vomiting of pregnancy- NVP) nhằm các mục tiêu chính: giảm mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống, điều chỉnh tình trạng giảm thể tích tuần hoàn, ceton niệu và rối loạn điện giải. Đồng thời, các biện pháp can thiệp cần ngăn ngừa biến chứng nghiêm trọng của nôn kéo dài như thiếu hụt vitamin hoặc giảm cân, trong khi vẫn đảm bảo tối thiểu hóa ảnh hưởng của thuốc đối với thai nhi.
HPV (Human Papillomavirus – HPV) là một trong số tác nhân gây ra bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất tại Hoa Kỳ. Nhiễm các chủng HPV nguy cơ cao có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung, gây tử vong cho khoảng 250.000 phụ nữ mỗi năm trên toàn cầu. Virus này còn gây ung thư hầu họng (đặc biệt vùng gốc lưỡi và amidan), ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật và hậu môn. Một số chủng khác còn gây ra mụn cóc sinh dục.
Việc kê đơn kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú luôn tiềm ẩn nguy cơ đối với trẻ bú mẹ. Mặc dù, các dữ liệu cho thấy đa số kháng sinh, kháng nấm thường sử dụng, có thể bài tiết vào sữa mẹ nhưng ít gây hại đến trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, vẫn có quan điểm về việc ngưng cho con bú mẹ hoặc trì hoãn điều trị không phù hợp. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của người phụ nữ và ảnh hưởng đến lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ. Do đó, việc xây dựng nguồn thông tin về tính an toàn của nhóm thuốc này đối với phụ nữ cho con bú là rất cần thiết. Đây sẽ là nguồn dữ liệu tham khảo đáng tin cậy để tư vấn và sử dụng kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú. Qua đó, góp phần vào việc sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và hợp lý trên đối tượng người bệnh là phụ nữ đang trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ.
Báo cáo hoạt động theo dõi adr năm 2025 của Bệnh viện Từ Dũ



