(Dextro)propoxyphene: các nghiên cứu mới xác định nguy cơ tim mạch
DS. Nguyễn Thị Thúy Anh
Khoa Dược – BV Từ Dũ
Drug Safety Update Jan 2011 vol 4, issue 6: H1.
Xem ấn bản mới của FDA, 19/11/2010
http://www.fda.gov/NewsEvents/Newsroom/PressAnnouncements/ucm234350.htm
và thông tin về an toàn dược phẩm sau khi đưa ra thị trường của FDA dành cho bệnh nhân và nhà cung cấp
Xem Cập nhật về An toàn Dược phẩm, tháng 11/2007, với thông tin nhắc nhở dành cho các bác sĩ về việc rút co-proxamol ra khỏi thị trường
http://www.mhra.gov.uk/Safetyinformation/DrugSafetyUpdate/CON084675
Thông tin dành cho thầy thuốc:
- Các bác sĩ cần đánh giá lại cân bằng giữa nguy cơ và lợi ích của việc tiếp tục trị liệu với co-proxamol ở mỗi bệnh nhân, lưu ý đến các thuốc khác cùng sử dụng và bất cứ bệnh lý kèm theo của từng cá nhân dựa trên dữ liệu mới của Mỹ.
- Không có người bệnh mới nào cần bắt đầu điều trị bằng co-proxamol (xem thông tin cho nhân viên y tế, ngày 31/01/2005:
http://www.mhra.gov.uk/home/groups/pl-a/documents/websiteresources/con019461.pdf)
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) với các triệu chứng ợ nóng, buồn nôn … rất phổ biến trong thai kỳ, ảnh hưởng 30- 80% phụ nữ mang thai (1). Với tần suất và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng tăng lên vào cuối thai kỳ. Mục tiêu điều trị là làm giảm các triệu chứng cho thai phụ mà không gây hại cho thai nhi.
Có ba loại muối tiêm benzylpenicillin cần được phân biệt rõ. Ba loại muối này không thể thay thế cho nhau về mặt lâm sàng.
- Benzylpenicillin natri
- Benzathin benzylpenicillin
- Procain benzylpenicillin
Vitamin D đóng vai trò quan trọng trong sức khỏe thai kỳ và sự phát triển của trẻ. Thiếu vitamin D trong giai đoạn mang thai liên quan đến nhiều nguy cơ bất lợi đối với mẹ và thai nhi. Các hướng dẫn mới hiện nay khuyến cáo phụ nữ mang thai nên được bổ sung vitamin D, mặc dù mức nồng độ tối ưu vẫn chưa được thống nhất.
Tiền đái tháo đường đang gia tăng nhanh và có thể tiến triển thành đái tháo đường tuýp 2 cũng như các biến chứng tim mạch nếu không được can thiệp kịp thời. Dinh dưỡng là yếu tố then chốt trong điều hòa đường huyết, trong đó việc đánh giá tác động của thực phẩm nguyên vẹn lên các chỉ số chuyển hoá ngày càng được quan tâm.
Việc sử dụng kháng sinh rộng rãi đã tác động đến hệ vi sinh vật đường ruột, thường dẫn đến tình trạng loạn khuẩn kéo dài với những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe. Kháng sinh không chỉ tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh mà còn phá vỡ các quần thể vi khuẩn có lợi, làm giảm đa dạng hệ vi sinh và làm tăng nguy cơ rối loạn chuyển hóa, suy giảm miễn dịch, cũng như nhiễm trùng cơ hội như Clostridioides difficile. Những thay đổi này có thể kéo dài từ nhiều tuần đến nhiều tháng sau điều trị, góp phần tạo nên các thách thức về sức khỏe lâu dài.
Virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncytial Virus-RSV) là một virus RNA sợi đơn thuộc họ Pneumoviridae cùng với metapneumovirus ở người và có hai kiểu gen A và B, bề mặt có nhiều gai glycoprotein (G và F) nằm ngoài màng đó là đích nhận diện của kháng thể1.



