Độc thận do kháng sinh nhóm Aminoglycosid: biểu hiện và yếu tố nguy cơ
DS. Dương Thị Thanh Sương (lược dịch)
K. Dược
Tổn thương thận cấp là một tình trạng nghiêm trọng thường liên quan đến việc sử dụng kháng sinh aminoglycosid, xảy ra với tần suất từ 10-20% và được biểu hiện bằng nồng độ creatinine huyết tương tăng hơn 0,5-1,0 mg/dl (tương đương 44-88 umol/L) hoặc tăng hơn 50% trong vòng 24 giờ. Ở trẻ em, độc thận do aminoglycosid xảy ra với tần suất từ 20-33%.
Aminoglycosid được lọc tự do qua cầu thận, một phần được hấp thu trở lại tuần hoàn, một phần được tích lũy gây tổn thương ở tế bào ống lượn gần. Sau khi truyền thuốc, 5-10% lượng thuốc sẽ được giữ lại tại vỏ thận khiến nồng độ thuốc đạt được tại đây cao hơn so với nồng độ thuốc trong huyết thanh. Do đó, độc thận do aminoglycosid có thể có các biểu hiện lâm sàng rõ ràng sau khi ngưng thuốc vài ngày.
BIỂU HIỆN
Tổn thương thận cấp không thiểu niệu
Tổn thương thận cấp do aminoglycosid có biểu hiện điển hình với sự tăng nồng độ creatinin huyết thanh sau 5-7 ngày dùng thuốc. Tổn thương thận cấp không thiểu niệu có thể biểu hiện thứ phát cho việc tổn thương ống lượn xa gây mất khả năng cô đặc nước tiểu.
Rối loạn chức năng ống lượn xa
2 biểu hiện của rối loạn chức năng ống lượn xa chính là đa niệu vì giảm khả năng cô đặc nước tiểu và giảm magie máu do tăng thải magie ra nước tiểu. Đa niệu được cho là biểu hiện thứ phát cho việc giảm sự nhạy cảm của tế bào biểu mô ống góp với hormon chống bài niệu nội sinh trong độc thận do aminoglycosid.
Rối loạn điện giải
Giảm magie máu, giảm kali máu, giảm calci máu và giảm phospho máu thường liên quan đến sự giảm vận chuyển qua ống lượn gần. Việc cạn kiệt nguồn magie có thể dẫn đến giảm thứ cấp kali máu và calci máu. Có thể điều trị hạ magie máu do độc tính của aminoglycosid bằng việc uống hoặc tiêm tĩnh mạch chế phẩm chứa magie. Tuy nhiên, hiệu quả của phác đồ uống thường hạn chế bởi sự bài tiết ra nước tiểu của lượng magie thừa.
Tế bào ống lượn gần có thể tái sinh, do đó nồng độ creatinin trong máu thường sẽ về mức bình thường như trước khi điều trị trong vòng 21 ngày sau khi ngưng thuốc. Tuy nhiên, quá trình phục hồi có thể chậm hơn trên những bệnh nhân vẫn còn giảm thể tích tuần hoàn, nhiễm trùng huyết, dị hóa.
YẾU TỐ NGUY CƠ
- Thời gian điều trị kéo dài: Tổn thương thận cấp thường xuất hiện ở những người có chức năng thận bình thường khi sử dụng aminoglycosid tối thiểu từ 5-7 ngày. Việc sử dụng thuốc kéo dài sẽ làm tăng nồng độ thuốc tích lũy tại ống thận.
- Lớn tuổi: Là một yếu tố nguy cơ quan trọng, nguyên nhân là do sự suy giảm chức năng tái sinh của các tế bào ống thận. Ngoài ra, lớn tuổi làm mức độ lọc cầu thận được đánh giá không chính xác dẫn đến sử dụng liều quá cao so với chức năng thận.
- Bệnh kèm theo: Đái tháo đường, bệnh bạch cầu có thể làm tăng nguy cơ gây độc thận ở những bệnh nhân dùng aminoglycosid. Đặc biệt, trường hợp bệnh nhân có mắc bệnh thận mạn kèm theo nếu không được hiệu chỉnh liều, có nguy cơ tăng cao nồng độ thuốc trong máu hơn ở người có chức năng thận bình thường. Đối với bệnh nhân bị bệnh gan, việc kích hoạt hệ renin-angiotensin-aldosterone có thể là một yếu tố làm tăng nguy cơ độc thận do thuốc. Vàng da tắc mật với bilirubin huyết tương tăng trên 5 mg/dl (85 umol/L) cũng là một yếu tố nguy cơ.
- Giảm thể tích tuần hoàn: Nguy cơ độc thận tăng cao trong trường hợp suy giảm thể tích nội mạch, suy tim, nhiễm trùng huyết và suy gan tiến triển (do giảm albumin máu).
- Dùng kèm với thuốc có nguy cơ độc thận: Furosemid, NSAIDS, thuốc ức chế men chuyển, ciplastin, cyclosporin, clindamycin và vancomycin. Một vài nghiên cứu cho thấy cephalosporin, penicillin dùng chung với aminoglycosid có thể bảo vệ thận do có thể giảm sự hấp thu aminoglycosid tại ống thận. Tuy nhiên, do tương kỵ nên tránh sử dụng chung 1 đường truyền với nhau.
- Nồng độ thuốc trong huyết tương tăng cao: Việc theo dõi nồng độ thuốc trong huyết tương là điều cần thiết để đảm bảo an toàn khi sử dụng thuốc. Lợi ích từ việc theo dõi nồng độ aminoglycosid cho thấy ít độc thận hơn, ít trường hợp điều trị thất bại hơn và rút ngắn thời gian nằm viện hơn so với người không theo dõi nồng độ thuốc.
- Loại aminoglycosid: Gentamicin có nguy cơ gây độc thận cao nhất, sau đó là amikacin và tobramycin.
- Liều dùng của thuốc, số lần dùng thuốc: Nghiên cứu dựa trên dược động học và dược lực học của thuốc, do aminoglycosid là thuốc kháng sinh phụ thuộc nồng độ và có hiệu ứng hậu kháng sinh kéo dài, việc sử dụng 1 lần/ngày giúp hạn chế nguy cơ độc thận do thuốc.
Aminoglycosid là một kháng sinh thường được sử dụng trong điều trị nhờ tác động hiệp lực của nó trên vi khuẩn. Tuy nhiên, do độc tính trên thận nên việc đánh giá các yếu tố nguy cơ trên người bệnh, cũng như theo dõi các dấu hiệu độc tính của aminoglycosid là cần thiết trong thực hành lâm sàng.
TLTK: Uptodate: Manifestations of and risk factors for aminoglycoside nephrotoxicity (Literature review current through: Feb 2023).
Lựa chọn biện pháp tránh thai không chỉ dựa trên hiệu quả tránh thai mà còn phải cân nhắc tình trạng sức khỏe, nguy cơ huyết khối – tim mạch, thời điểm sử dụng sau sinh, tình trạng cho con bú, các thuốc dùng đồng thời và mong muốn của người sử dụng.
Tiêm chủng là một phần thiết yếu trong chăm sóc sức khỏe dự phòng cho người lớn, bao gồm cả phụ nữ có thai (PNCT). Từ năm 2023, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) và Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo các thai phụ từ 18 tuổi trở lên nên được sàng lọc bằng xét nghiệm ba chỉ số (HBsAg, anti-HBs và anti-HBc), nếu chưa thực hiện trước đó, để xác định đối tượng dễ mắc bệnh và cần tiêm phòng.
Điều trị nôn và buồn nôn trong thai kỳ (nausea and vomiting of pregnancy- NVP) nhằm các mục tiêu chính: giảm mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống, điều chỉnh tình trạng giảm thể tích tuần hoàn, ceton niệu và rối loạn điện giải. Đồng thời, các biện pháp can thiệp cần ngăn ngừa biến chứng nghiêm trọng của nôn kéo dài như thiếu hụt vitamin hoặc giảm cân, trong khi vẫn đảm bảo tối thiểu hóa ảnh hưởng của thuốc đối với thai nhi.
HPV (Human Papillomavirus – HPV) là một trong số tác nhân gây ra bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất tại Hoa Kỳ. Nhiễm các chủng HPV nguy cơ cao có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung, gây tử vong cho khoảng 250.000 phụ nữ mỗi năm trên toàn cầu. Virus này còn gây ung thư hầu họng (đặc biệt vùng gốc lưỡi và amidan), ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật và hậu môn. Một số chủng khác còn gây ra mụn cóc sinh dục.
Việc kê đơn kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú luôn tiềm ẩn nguy cơ đối với trẻ bú mẹ. Mặc dù, các dữ liệu cho thấy đa số kháng sinh, kháng nấm thường sử dụng, có thể bài tiết vào sữa mẹ nhưng ít gây hại đến trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, vẫn có quan điểm về việc ngưng cho con bú mẹ hoặc trì hoãn điều trị không phù hợp. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của người phụ nữ và ảnh hưởng đến lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ. Do đó, việc xây dựng nguồn thông tin về tính an toàn của nhóm thuốc này đối với phụ nữ cho con bú là rất cần thiết. Đây sẽ là nguồn dữ liệu tham khảo đáng tin cậy để tư vấn và sử dụng kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú. Qua đó, góp phần vào việc sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và hợp lý trên đối tượng người bệnh là phụ nữ đang trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ.
Báo cáo hoạt động theo dõi adr năm 2025 của Bệnh viện Từ Dũ



