Kháng sinh điều trị nhiễm trùng tiểu ở phụ nữ mang thai
DS. Võ Trương Diễm Phương (lược dịch)
Nhiễm trùng tiểu là một trong những biến chứng chu sinh thường gặp, ảnh hưởng đến khoảng 8% phụ nữ mang thai. Các bệnh cảnh của nhiễm trùng tiểu trong thai kỳ bao gồm nhiễm trùng tiểu không triệu chứng, viêm bàng quang cấp tính và viêm bể thận. Trong đó, viêm bể thận có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm cho thai phụ như nhiễm khuẩn huyết, đông máu nội mạch lan tỏa và hội chứng suy hô hấp cấp tính. Vì vậy, việc chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời nhiễm trùng tiểu cho phụ nữ mang thai là rất quan trọng trong quá trình chăm sóc sức khỏe thai kỳ.
Kháng sinh điều trị nhiễm trùng tiểu không triệu chứng và viêm bàng quang cấp tính
Nhiễm trùng tiểu không triệu chứng và viêm bàng quang cấp tính nên được điều trị bằng kháng sinh mục tiêu trong 5-7 ngày. Kháng sinh ban đầu nên tránh lựa chọn amoxicillin và ampicillin do tỷ lệ đề kháng cao với Escherichia coli tại hầu hết các khu vực.
|
Bảng 1. Kháng sinh điều trị nhiễm trùng tiểu không triệu chứng và viêm bàng quang cấp tính |
||
|
Kháng sinh |
Chế độ liều kháng sinh |
Một số lưu ý |
|
Nitrofurantoin |
Uống 100mg mỗi 12 giờ trong 5-7 ngày |
⁃ Có thể sử dụng trong tam cá nguyệt thứ nhất nếu không có sẵn các thuốc thay thế phù hợp ⁃ Tránh dùng để điều trị viêm bể thận do thuốc không đạt nồng độ trị liệu tại thận |
|
Cephalexin (*) |
Uống 250-500mg mỗi 6 giờ trong 5-7 ngày |
|
|
Sulfamethoxazol-trimethoprim |
Uống 800/160mg mỗi 12 giờ trong 5-7 ngày |
⁃ Có thể sử dụng trong tam cá nguyệt thứ nhất nếu không có sẵn các thuốc thay thế phù hợp ⁃ Khi tỷ lệ đề kháng Sulfamethoxazol-trimethoprim trên 20%, tránh lựa chọn thuốc này như là kháng sinh ban đầu trước khi có kết quả nuôi cấy |
|
Fosfomycin |
Uống 3g liều duy nhất |
Tránh dùng để điều trị viêm bể thận do thuốc không đạt nồng độ trị liệu tại thận |
|
Amoxicillin (*) |
⁃ Uống 500mg mỗi 8 giờ trong 5-7 ngày ⁃ Uống 875mg mỗi 12 giờ trong 5-7 ngày |
Tỷ lệ đề kháng kháng sinh cao, tránh lựa chọn thuốc này như là kháng sinh ban đầu trước khi có kết quả nuôi cấy |
|
Amoxicillin-clavulanat (*) |
⁃ Uống 500mg mỗi 8 giờ trong 5-7 ngày ⁃ Uống 875mg mỗi 12 giờ trong 5-7 ngày |
Tỷ lệ đề kháng kháng sinh cao, tránh lựa chọn thuốc này như là kháng sinh ban đầu trước khi có kết quả nuôi cấy |
|
(*) Đối với bệnh nhân dị ứng với kháng sinh nhóm betalactam và không phù hợp với các nhóm kháng sinh khác, cần khai thác thêm mức độ phản ứng dị ứng của người bệnh. Nếu nguy cơ sốc phản vệ thấp, kháng sinh nhóm cephalosporin có thể thích hợp để lựa chọn điều trị. Tuy nhiên, những người có nguy cơ sốc phản vệ cao nên lựa chọn phác đồ thay thế. |
||
Đối với nhiễm trùng tiểu không triệu chứng, chưa đủ bằng chứng khuyến cáo về việc tầm soát lại bệnh sau một đợt điều trị kháng sinh phù hợp. Tuy nhiên, với viêm bàng quang cấp tính, có thể xem xét việc cấy nước tiểu lại sau 1-2 tuần kết thúc điều trị hoặc đánh giá vẫn còn triệu chứng bệnh.
Chưa đủ bằng chứng hướng dẫn quản lý điều trị nhiễm trùng tiểu tái phát trong thai kỳ. Các trường hợp nhiễm trùng tiểu tái phát, cân nhắc sử dụng kháng sinh dự phòng trong khoảng thời gian còn lại của thai kỳ, ưu tiên sử dụng kháng sinh liều thấp một lần mỗi ngày và còn nhạy cảm với vi khuẩn gây bệnh được phân lập.
Kháng sinh điều trị viêm bể thận
Viêm bể thận trong thai kỳ cần bắt đầu điều trị nội trú tại bệnh viện. Lựa chọn kháng sinh ban đầu có khả năng thâm nhập tốt vào nhu mô thận và phù hợp với các tác nhân gây bệnh thường gặp nhất. Cân nhắc điều chỉnh chế độ kháng sinh điều trị khi cần thiết dựa theo kết quả cấy nước tiểu và độ nhạy cảm của kháng sinh. Duy trì kháng sinh đường tĩnh mạch cho đến khi triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân được cải thiện. Thời gian điều trị kháng sinh thường khoảng cách 14 ngày.
Chưa đủ bằng chứng hướng dẫn quản lý sau điều trị viêm bể thận trong thai kỳ. Kháng sinh dự phòng viêm bể thận có thể được xem xét trong khoảng thời gian còn lại của thai kỳ, tương tự như liệu pháp kháng sinh dự phòng nhiễm trùng tiểu tái phát.
|
Bảng 2. Kháng sinh điều trị viêm bể thận |
|
|
Kháng sinh |
Chế độ liều kháng sinh |
|
Ampicillin + Gentamicin |
2g tiêm tĩnh mạch mỗi 6 giờ + 1,5mg/kg tiêm tĩnh mạch mỗi 8 giờ 5mg/kg tiêm tĩnh mạch mỗi 24 giờ |
|
Ceftriaxon |
1g tiêm tĩnh mạch mỗi 24 giờ |
|
Cefepim |
1g tiêm tĩnh mạch mỗi 12 giờ |
|
Aztreonam (phù hợp đối với bệnh nhân dị ứng với kháng sinh nhóm betalactam) |
1g tiêm tĩnh mạch mỗi 8-12 giờ |
Tài liệu tham khảo:
Urinary Tract Infections in Pregnant Individuals. Obstet Gynecol. 2023;142(2):435-445. doi:10.1097/AOG.0000000000005269
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) với các triệu chứng ợ nóng, buồn nôn … rất phổ biến trong thai kỳ, ảnh hưởng 30- 80% phụ nữ mang thai (1). Với tần suất và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng tăng lên vào cuối thai kỳ. Mục tiêu điều trị là làm giảm các triệu chứng cho thai phụ mà không gây hại cho thai nhi.
Có ba loại muối tiêm benzylpenicillin cần được phân biệt rõ. Ba loại muối này không thể thay thế cho nhau về mặt lâm sàng.
- Benzylpenicillin natri
- Benzathin benzylpenicillin
- Procain benzylpenicillin
Vitamin D đóng vai trò quan trọng trong sức khỏe thai kỳ và sự phát triển của trẻ. Thiếu vitamin D trong giai đoạn mang thai liên quan đến nhiều nguy cơ bất lợi đối với mẹ và thai nhi. Các hướng dẫn mới hiện nay khuyến cáo phụ nữ mang thai nên được bổ sung vitamin D, mặc dù mức nồng độ tối ưu vẫn chưa được thống nhất.
Tiền đái tháo đường đang gia tăng nhanh và có thể tiến triển thành đái tháo đường tuýp 2 cũng như các biến chứng tim mạch nếu không được can thiệp kịp thời. Dinh dưỡng là yếu tố then chốt trong điều hòa đường huyết, trong đó việc đánh giá tác động của thực phẩm nguyên vẹn lên các chỉ số chuyển hoá ngày càng được quan tâm.
Việc sử dụng kháng sinh rộng rãi đã tác động đến hệ vi sinh vật đường ruột, thường dẫn đến tình trạng loạn khuẩn kéo dài với những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe. Kháng sinh không chỉ tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh mà còn phá vỡ các quần thể vi khuẩn có lợi, làm giảm đa dạng hệ vi sinh và làm tăng nguy cơ rối loạn chuyển hóa, suy giảm miễn dịch, cũng như nhiễm trùng cơ hội như Clostridioides difficile. Những thay đổi này có thể kéo dài từ nhiều tuần đến nhiều tháng sau điều trị, góp phần tạo nên các thách thức về sức khỏe lâu dài.
Virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncytial Virus-RSV) là một virus RNA sợi đơn thuộc họ Pneumoviridae cùng với metapneumovirus ở người và có hai kiểu gen A và B, bề mặt có nhiều gai glycoprotein (G và F) nằm ngoài màng đó là đích nhận diện của kháng thể1.



