Kiểm soát nguy cơ nhầm lẫn giữa các loại muối penicillin tiêm
Lược dịch
Việc nhầm lẫn giữa các loại muối khác nhau của penicillin tiêm có thể dẫn đến việc kê đơn, cung cấp hoặc sử dụng nhầm loại muối penicillin. Điều này có thể gây ra:
- Thất bại điều trị hoặc điều trị chậm trễ các bệnh nhiễm trùng, nếu không dùng đúng liều lượng, tần suất và đường dùng.
- Quá liều penicillin, chẳng hạn co giật và hôn mê
- Tổn thương thần kinh mạch máu nghiêm trọng, phù nề, ngừng tim và tử vong do vô tình sử dụng thuốc không đúng đường dùng.
Có ba loại muối tiêm benzylpenicillin cần được phân biệt rõ. Ba loại muối này không thể thay thế cho nhau về mặt lâm sàng.
- Benzylpenicillin natri
- Benzathin benzylpenicillin
- Procain benzylpenicillin
|
|
Benzylpenicillin (penicillin G) |
Benzathin benzylpenicillin |
Procain benzylpenicillin |
||
|
Tính chất |
Tác dụng ngắn |
Khi tiêm bắp, thuốc thủy phân tạo ra penicilin G một cách từ từ và với nồng độ thấp, cho tác dụng kéo dài |
|||
|
Chỉ định |
Hầu hết các vết thương nhiễm khuẩn và các nhiễm khuẩn ở mũi, họng, xoang mũi, đường hô hấp và tai giữa. Nhiễm khuẩn máu hoặc nhiễm mủ huyết do vi khuẩn nhạy cảm. Viêm xương tủy cấp và mạn. Viêm màng trong tim nhiễm khuẩn. Viêm màng não do các vi khuẩn nhạy cảm. Viêm phổi nặng do Pneumococcus. |
Không dùng trong điều trị các nhiễm khuẩn cấp, nặng hoặc nhiễm khuẩn huyết. Giới hạn dùng cho trường hợp nhiễm các vi sinh vật nhạy cảm cao với benzylpenicilin. VD: điều trị giang mai, bejel, bệnh ghẻ cóc (Yaws) và bệnh pinta. |
|||
|
Liều lượng |
Người lớn: 600mg đến 3g tùy theo chỉ định. Liều dùng cho trẻ sơ sinh và trẻ em tùy thuộc vào chỉ định và độ tuổi hoặc cân nặng. |
1,2 hoặc 2,4 triệu đơn vị, tùy thuộc vào chỉ định.
|
600.000 đơn vị - 2,4 triệu đơn vị. |
||
|
Đường dùng |
Tiêm bắp/ tiêm tĩnh mạch |
Chỉ tiêm bắp: Tiêm bắp sâu với tốc độ chậm, ổn định vào vùng lưng mông (phần tư ngoài trên của mông) hoặc vùng bụng mông (phần trước ngoài đùi). Khi cần dùng liều lặp lại, hãy thay đổi vị trí tiêm. Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, tiêm vào mặt giữa ngoài của đùi là lựa chọn tốt hơn. |
|||
|
Việc vô tình đưa muối không đúng cách vào mạch máu có thể gây hại, bao gồm tổn thương thần kinh mạch máu, phù nề nghiêm trọng, ngừng tim và tử vong. |
|||||
|
Thận trọng |
Tuyệt đối thận trọng với người có tiền sử dị ứng với penicilin và cephalosporin, do có nguy cơ phản ứng chéo miễn dịch giữa benzylpenicilin và các cephalosporin. Thận trọng với người bệnh suy giảm chức năng thận, đặc biệt ở trẻ sơ sinh và người cao tuổi. Với người suy tim, cần chú ý đặc biệt, do nguy cơ tăng natri huyết sau khi tiêm liều cao benzylpenicilin natri.
|
Thận trọng ở bệnh nhân có tiền sử dị ứng hoặc/và hen nặng. Không được tiêm vào mạch máu vì có thể gây thiếu máu cục bộ. Tiêm thuốc vào mạch máu, tiêm vào hoặc tiêm gần các dây thần kinh ngoại vi chủ yếu có thể gây hủy hoại thần kinh mạch nặng nề và/hoặc vĩnh viễn. Không tiêm tĩnh mạch vì có thể gây huyết khối, hủy hoại thần kinh mạch trầm trọng, ngừng tim phổi và tử vong. Không tiêm dưới da hoặc lớp mỡ dưới da vì gây đau và tạo cục cứng. |
Không dùng thuốc cho trường hợp có tiền sử dị ứng với các penicilin, các cephalosporin. Phải rất thận trọng khi dùng liều cao cho người bệnh có tiền sử dị ứng, hen hoặc loạn nhịp tim. Thận trọng khi dùng thuốc cho trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ tuổi, người bệnh có suy giảm chức năng gan, thận, đặc biệt ở người cao tuổi. Đánh giá chức năng gan, thận và dùng chế độ điều trị thích hợp cho những trường hợp này. |
||
Tài liệu tham khảo
- https://www.sps.nhs.uk/articles/managing-the-risk-of-confusion-between-injectable-penicillin-salts/
- Dược thư quốc gia Việt Nam
- Cơ sở dữ liệu Uptodate, truy cập tháng 11/2025
Lựa chọn biện pháp tránh thai không chỉ dựa trên hiệu quả tránh thai mà còn phải cân nhắc tình trạng sức khỏe, nguy cơ huyết khối – tim mạch, thời điểm sử dụng sau sinh, tình trạng cho con bú, các thuốc dùng đồng thời và mong muốn của người sử dụng.
Tiêm chủng là một phần thiết yếu trong chăm sóc sức khỏe dự phòng cho người lớn, bao gồm cả phụ nữ có thai (PNCT). Từ năm 2023, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) và Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo các thai phụ từ 18 tuổi trở lên nên được sàng lọc bằng xét nghiệm ba chỉ số (HBsAg, anti-HBs và anti-HBc), nếu chưa thực hiện trước đó, để xác định đối tượng dễ mắc bệnh và cần tiêm phòng.
Điều trị nôn và buồn nôn trong thai kỳ (nausea and vomiting of pregnancy- NVP) nhằm các mục tiêu chính: giảm mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống, điều chỉnh tình trạng giảm thể tích tuần hoàn, ceton niệu và rối loạn điện giải. Đồng thời, các biện pháp can thiệp cần ngăn ngừa biến chứng nghiêm trọng của nôn kéo dài như thiếu hụt vitamin hoặc giảm cân, trong khi vẫn đảm bảo tối thiểu hóa ảnh hưởng của thuốc đối với thai nhi.
HPV (Human Papillomavirus – HPV) là một trong số tác nhân gây ra bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất tại Hoa Kỳ. Nhiễm các chủng HPV nguy cơ cao có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung, gây tử vong cho khoảng 250.000 phụ nữ mỗi năm trên toàn cầu. Virus này còn gây ung thư hầu họng (đặc biệt vùng gốc lưỡi và amidan), ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật và hậu môn. Một số chủng khác còn gây ra mụn cóc sinh dục.
Việc kê đơn kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú luôn tiềm ẩn nguy cơ đối với trẻ bú mẹ. Mặc dù, các dữ liệu cho thấy đa số kháng sinh, kháng nấm thường sử dụng, có thể bài tiết vào sữa mẹ nhưng ít gây hại đến trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, vẫn có quan điểm về việc ngưng cho con bú mẹ hoặc trì hoãn điều trị không phù hợp. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của người phụ nữ và ảnh hưởng đến lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ. Do đó, việc xây dựng nguồn thông tin về tính an toàn của nhóm thuốc này đối với phụ nữ cho con bú là rất cần thiết. Đây sẽ là nguồn dữ liệu tham khảo đáng tin cậy để tư vấn và sử dụng kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú. Qua đó, góp phần vào việc sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và hợp lý trên đối tượng người bệnh là phụ nữ đang trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ.
Báo cáo hoạt động theo dõi adr năm 2025 của Bệnh viện Từ Dũ



