Metformin trong thời kỳ mang thai và cho con bú
William M Hague, Senior Consultant Physician in Obstetric Medicine, Women's and Children's Hospital, and Clinical Senior Lecturer in Obstetrics, University of Adelaide(Aust Prescr 2007;30:68-9)
Tóm tắt
Metformin cải thiện tính nhạy cảm đối với insulin và làm giảm sự tân tạo glucose tại gan ở bệnh nhân đái tháo đường. Thuốc này mang lại lợi ích cho thai phụ bị đái tháo đường thai kỳ hoặc type 2 do tình trạng bệnh có liên quan đến sự đề kháng insulin. Một sốnghiên cứu đoàn hệ và các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên hiện nay đang tiến hành so sánh metformin với insulin, nhưng vẫn chưa có chứng cứ rõ ràng để đưa ra hướng dẫn điều trị. Không có dữ liệu về sự theo dõi lâu dài nhằm đảm bảo tính an toàn của metformin khi hoạt chất đi qua nhau thai, mặc dù bằng chứng mới đây cho rằng thuốc không có nguy cơ đáng kể gây quái thai. Một lượng nhỏ metformin bài tiết qua sữa nhưng nguy cơ gây hạ đường huyết ở trẻ sơ sinh là không đáng kể.
Giới thiệu
Thuốc hạ đường huyết đường uống được xem xét trong nhiều năm để điều trị cho phụ nữ bị đái tháo đường trong giai đoạn mang thai hay cho con bú sữa mẹ. Thai phụ bị đái tháo đường type 2 thường được chuyển sang điều trị bằng insulin. Tuy nhiên, Nam Phi đã có kinh nghiệm lâu dài về việc sử dụng metformin (nhóm biguanide) cho thai phụ. Metformin gia tăng tính nhạy cảm đối với insulin, làm giảm sản xuất glucose tại gan và có liên quan với khuynh hướng giảm cân.1
Metformin đang được sử dụng ngày càng nhiều để điều trị hội chứng buồng trứng đa nang do hội chứng này có liên quan với sự đề kháng insulin. Metformin làm giảm tình trạng cường androgen, tăng khả năng rụng trứng, hiện nay thuốc này được sử dụng rộng rãi trong điều trị vô sinh.2 Nếu một người phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang có thai trong thời gian dùng metformin, vấn đề đặt ra là có nên tiếp tục điều trị bằng thuốc này hay không.
Tính chất gây quái thai
Cần lưu ý khi sử dụng metformin trong thai kỳ. Metformin thuộc nhóm C theo hệ thống phân loại của Úc về nguy cơ trong thai kỳ. Thông tin sản phẩm khuyến cáo việc chuyển sang điều trị với insulin trong thời kỳ mang thai. Điều quan trọng là phải duy trì kiểm soát mức đường huyết tối ưu và giảm nguy cơ dị tật bẩm sinh do tình trạng tăng đường huyết ở mẹ.
Hiện có rất ít thông tin về tính chất dược động học của metformin trong thai kỳ. Một nghiên cứu nhỏ trên bảy phụ nữ cho thấy độ thanh thải của metformin gia tăng trong giai đoạn mang thai và có liên quan đến sự tăng thải trừ thuốc qua thận.[3] Nhiều dữ liệu cần được cung cấp để làm sáng tỏ vấn đề là có nên điều chỉnh liều khi thai kỳ tiến triển. Các nghiên cứu về sự vận chuyển của metformin qua nhau thai đã chứng tỏ thuốc này đi vào tuần hoàn thai nhi một cách nhanh chóng.[4]
Các dữ kiện gần đây xác định tính an toàn của metformin khi dùng vào đầu thai kỳ mặc dù chưa có số liệu về sự theo dõi lâu dài.[5] Cần có các thử nghiệm ngẫu nhiên được thiết kế phù hợp, có cỡ mẫu đủ lớn để loại trừ những kết cục nguy hại không tiên đoán được như các khuyết tật bẩm sinh.
Kết cục
Chưa biết rõ liệu tiếp tục sử dụng metformin vào đầu thai kỳ sẽ cho kết cục tốt hơn là ngưng dùng thuốc (đối với phụ nữ mắc hội chứng buồng trứng đa nang) hoặc đổi sang dùng insulin (ở phụ nữ bị đái tháo đường type 2). Trong một số trường hợp, metformin được ưa thích hơn, tuy nhiên bệnh nhân nên được tư vấn một cách cụ thể về nguy cơ xảy ra cũng như lợi ích đạt được.[6] Điều lý tưởng là có thể đưa họ vào nghiên cứu có thiết kế phù hợp.
Nghiên cứu không ngẫu nhiên tại New Zealand trên một số thai phụ bị đái tháođường type 2 được điều trị bằng metformin cho thấy rằng không có sự khác biệt về kết cục khi so sánh với các đối tượng tương tự được cho dùng insulin.[7] Một thử nghiệm nhỏ ngẫu nhiên tại Úc đã chứng tỏ không có sự khác biệt về hoạt tính của tế bào beta thai nhi dựa vào nồng độ C-peptide đo ở máu cuống rốn lúc sanh giữa các trẻ có mẹ bị đái tháo đường thai kỳ điều trị bằng metformin và các trẻ của bà mẹ dùng insulin.[8]
Một thử nghiệm ngẫu nhiên về việc sử dụng metformin trong bệnh đái tháo đường thai kỳ đang được tiến hành để khảo sát tính hiệu quả của metformin so với insulin, với kết cục chính là biến chứng ở trẻ sơ sinh. Sau khi xem xét các kết quả trên 600 phụ nữ, ủy ban độc lập theo dõi phân tích dữ liệu đã khuyến cáo vẫn tiếp tục nghiên cứu này.
Metformin cải thiện nồng độ trong huyết tương các dấu ấn của sự hoạt hóa tế bào nội mô ở những người có rối loạn dung nạp glucose, không liên quan đến sự thay đổi đường huyết, lipid huyết, trọng lượng hay tính nhạy cảm với insulin.[9] Điều này có lợi đối với các thai phụ bị đái tháo đường vì họ có nguy cơ mắc các bệnh lý liên quan đến sự hoạt hóa tế bào nội mô chẳng hạn như tiền sản giật. Hiện nay có ít dữ liệu đánh giá kết cục điều trị. Theo một thử nghiệm nhỏ ngẫu nhiên có đối chứng giả dược trên 38 thai phụ bị hội chứng buồng trứng đa nang, các biến chứng thai kỳ ít nghiêm trọng hơn ở những phụ nữ dùng metformin.[10]
Bất cứ lợi ích nào của metformin có liên quan đến tình trạng béo phì trong tương lai ở trẻ và sự tiến triển bệnh đái tháo đường về sau vẫn còn là giả thiết. Các nghiên cứu hiện nay đòi hỏi các dữ liệu về sự theo dõi lâu dài ở trẻ.
Thời kỳ cho con bú
Có 3 nghiên cứu được xuất bản về sự bài tiết metformin qua sữa mẹ. Tỷ lệ về nồng độ thuốc trong sữa so với trong huyết tương nằm trong khoảng 0.18 - 1.00, trong khi đó liều lượng ước tính vào trẻ thay đổi từ 0.18% đến 1.08%. Liều này thấp hơn nhiều so với ngưỡng an toàn 10%.[11] Các bà mẹ có thể yên tâm rằng thuốc không có tác dụng phụ đáng kể đối với trẻ. Đặc biệt, thuốc này không gây ra nguy cơ hạ đường huyết ở trẻ sơ sinh như các thuốc kích thích sự giải phóng insulin - nhóm sulfonylureas. Duy trì đường huyết ổn định ở mẹ trong giai đoạn cho con bú vẫn là nguyên tắc quan trọng để giảm nguy cơ béo phì cho trẻ.[12]
Kết luận
Bằng chứng đã cho thấy rằng metformin có thể cải thiện tính nhạy cảm đối với insulin trong thời kỳ mang thai. Điều này có lợi đối với bệnh đái tháo đường thai kỳ, nhưng cần có nhiều dữ liệu hơn. Metformin có thể sử dụng cho bà mẹ đang cho con bú sữa mẹ.
Tài liệu tham khảo
1. Kirpichnikov D, McFarlane SI, Sowers JR. Metformin: an update. Ann Intern Med 2002;137:25-33.
2. Lord JM, Flight IH, Norman RJ. Metformin in polycystic ovary syndrome: systematic review and meta-analysis. BMJ 2003;327:951-3.
3. Hughes RC, Gardiner SJ, Begg EJ, Zhang M. Effect of pregnancy on the pharmacokinetics of metformin. Diabet Med 2006;23:323-6.
4. Charles B, Norris R, Xiao X, Hague W. Population pharmacokinetics of metformin in late pregnancy. Ther Drug Monit 2006;28:67-72.
5. Gilbert C, Valois M, Koren G. Pregnancy outcome after first-trimester exposure to metformin: a meta-analysis. Fertil Steril 2006;86:658-63.
6. Simmons D, Walters BN, Rowan JA, McIntyre HD. Metformin therapy and diabetes in pregnancy. Med J Aust 2004;180:462-4.
7. Hughes RC, Rowan JA. Pregnancy in women with type 2 diabetes: who takes metformin and what is the outcome? Diabet Med 2006;23:318-22.
8. Hague WM, Davoren PM, Oliver J, Rowan J. Contraindications to use of metformin. Metformin may be useful in gestational diabetes. BMJ 2003;326:762. [R]
9. Caballero AE, Delgado A, Aguilar-Salinas CA, Herrera AN, Castillo JL, Cabrera T, et al. The differential effects of metformin on markers of endothelial activation and inflammation in subjects with impaired glucose tolerance: a placebo-controlled, randomized clinical trial. J Clin Endocrinol Metab 2004;89:3943-8. [R]
10. Vanky E, Salvesen KA, Heimstad R, Fougner KJ, Romundstad P, Carlsen SM. Metformin reduces pregnancy complications without affecting androgen levels in pregnant polycystic ovary syndrome women: results of a randomized study. Hum Reprod 2004;19:1734-40. [R]
11. Briggs GG, Ambrose PJ, Nageotte MP, Padilla G, Wan S. Excretion of metformin into breast milk and the effect on nursing infants. Obstet Gynecol 2005;105:1437-41.
12. Plagemann A, Harder T, Franke K, Kohloff R. Long-term impact of neonatal breast-feeding on body weight and glucose tolerance in children of diabetic mothers. Diabetes Care 2002;25:16-22.
[R] randomised controlled trial
DS. Nguyễn Thị Thúy Anh (Dịch)
P. Dược Lâm Sàng - BV Từ Dũ
Lựa chọn biện pháp tránh thai không chỉ dựa trên hiệu quả tránh thai mà còn phải cân nhắc tình trạng sức khỏe, nguy cơ huyết khối – tim mạch, thời điểm sử dụng sau sinh, tình trạng cho con bú, các thuốc dùng đồng thời và mong muốn của người sử dụng.
Tiêm chủng là một phần thiết yếu trong chăm sóc sức khỏe dự phòng cho người lớn, bao gồm cả phụ nữ có thai (PNCT). Từ năm 2023, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) và Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo các thai phụ từ 18 tuổi trở lên nên được sàng lọc bằng xét nghiệm ba chỉ số (HBsAg, anti-HBs và anti-HBc), nếu chưa thực hiện trước đó, để xác định đối tượng dễ mắc bệnh và cần tiêm phòng.
Điều trị nôn và buồn nôn trong thai kỳ (nausea and vomiting of pregnancy- NVP) nhằm các mục tiêu chính: giảm mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống, điều chỉnh tình trạng giảm thể tích tuần hoàn, ceton niệu và rối loạn điện giải. Đồng thời, các biện pháp can thiệp cần ngăn ngừa biến chứng nghiêm trọng của nôn kéo dài như thiếu hụt vitamin hoặc giảm cân, trong khi vẫn đảm bảo tối thiểu hóa ảnh hưởng của thuốc đối với thai nhi.
HPV (Human Papillomavirus – HPV) là một trong số tác nhân gây ra bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất tại Hoa Kỳ. Nhiễm các chủng HPV nguy cơ cao có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung, gây tử vong cho khoảng 250.000 phụ nữ mỗi năm trên toàn cầu. Virus này còn gây ung thư hầu họng (đặc biệt vùng gốc lưỡi và amidan), ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật và hậu môn. Một số chủng khác còn gây ra mụn cóc sinh dục.
Việc kê đơn kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú luôn tiềm ẩn nguy cơ đối với trẻ bú mẹ. Mặc dù, các dữ liệu cho thấy đa số kháng sinh, kháng nấm thường sử dụng, có thể bài tiết vào sữa mẹ nhưng ít gây hại đến trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, vẫn có quan điểm về việc ngưng cho con bú mẹ hoặc trì hoãn điều trị không phù hợp. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của người phụ nữ và ảnh hưởng đến lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ. Do đó, việc xây dựng nguồn thông tin về tính an toàn của nhóm thuốc này đối với phụ nữ cho con bú là rất cần thiết. Đây sẽ là nguồn dữ liệu tham khảo đáng tin cậy để tư vấn và sử dụng kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú. Qua đó, góp phần vào việc sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và hợp lý trên đối tượng người bệnh là phụ nữ đang trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ.
Báo cáo hoạt động theo dõi adr năm 2025 của Bệnh viện Từ Dũ



