Nguy cơ quá liều thuốc uống giọt Vitamin D ở trẻ em
Theo Linda M. Katz, M.D., M.P.H., trưởng bộ phận y khoa của Trung tâm An toàn Thực phẩm và Dinh dưỡng Ứng dụng của FDA, trẻ em không nên dùng vượt quá liều khuyến cáo hàng ngày. “Cha mẹ và người chăm sóc trẻ chỉ nên sử dụng ống nhỏ giọt kèm theo chế phẩm vitamin D đã mua.”
Vitamin D giúp hấp thu canxi ở ruột và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển xương vững chắc. Các chế phẩm bổ sung vitamin D được khuyến cáo dùng cho một số trẻ em, nhất là các trẻ bú sữa mẹ - bởi vì thiếu vitamin này có thể gây mềm, biến dạng xương, thường thấy ở bệnh còi xương.
Tuy nhiên, thừa vitamin D có thể gây buồn nôn, ói mửa, chán ăn, khát nhiều, đa niệu, táo bón, đau bụng, yếu cơ, đau cơ và khớp, lẫn lộn, mệt mỏi, cũng như các hậu quả nghiêm trọng hơn như tổn thương thận.
Khuyến cáo của FDA
- Đảm bảo rằng trẻ không dùng quá 400 đơn vị quốc tế vitamin D mỗi ngày, đây là liều hàng ngày mà Viện Nhi Khoa của Mỹ đề nghị đối với trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn hay một phần.
- Nên giữ sản phẩm kèm theo bao bì nguyên thủy để những người chăm sóc trẻ có thể đọc các thông tin cần thiết. Theo sát các hướng dẫn này để sử dụng ống nhỏ giọt đúng cách và lấy đúng liều lượng.
- Chỉ dùng ống nhỏ giọt đính kèm theo sản phẩm. Không sử dụng ống nhỏ giọt của loại thuốc khác.
- Các đơn vị đo lường trên ống nhỏ giọt phải rõ ràng và dễ hiểu, tương ứng với cách phân liều được ghi trong phần hướng dẫn dùng thuốc.
- Hãy liên hệ với nhân viên y tế trước khi cho trẻ uống thuốc nếu như không thể xác định được liều thuốc bằng ống nhỏ giọt.
- Nếu trẻ bú sữa ngoài hoàn toàn hoặc một phần, cần nói rõ cho thầy thuốc biết trước khi cho trẻ sử dụng chế phẩm bổ sung vitamin D.
Lưu ý: Bất cứ một loại thuốc hay thực phẩm bổ sung nào đều có thể gây phản ứng có hại và phải được sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Theo
www.fda.gov/ForConsumers/ConsumerUpdates
Khoa Dược – BV Từ Dũ
Lựa chọn biện pháp tránh thai không chỉ dựa trên hiệu quả tránh thai mà còn phải cân nhắc tình trạng sức khỏe, nguy cơ huyết khối – tim mạch, thời điểm sử dụng sau sinh, tình trạng cho con bú, các thuốc dùng đồng thời và mong muốn của người sử dụng.
Tiêm chủng là một phần thiết yếu trong chăm sóc sức khỏe dự phòng cho người lớn, bao gồm cả phụ nữ có thai (PNCT). Từ năm 2023, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) và Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo các thai phụ từ 18 tuổi trở lên nên được sàng lọc bằng xét nghiệm ba chỉ số (HBsAg, anti-HBs và anti-HBc), nếu chưa thực hiện trước đó, để xác định đối tượng dễ mắc bệnh và cần tiêm phòng.
Điều trị nôn và buồn nôn trong thai kỳ (nausea and vomiting of pregnancy- NVP) nhằm các mục tiêu chính: giảm mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống, điều chỉnh tình trạng giảm thể tích tuần hoàn, ceton niệu và rối loạn điện giải. Đồng thời, các biện pháp can thiệp cần ngăn ngừa biến chứng nghiêm trọng của nôn kéo dài như thiếu hụt vitamin hoặc giảm cân, trong khi vẫn đảm bảo tối thiểu hóa ảnh hưởng của thuốc đối với thai nhi.
HPV (Human Papillomavirus – HPV) là một trong số tác nhân gây ra bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất tại Hoa Kỳ. Nhiễm các chủng HPV nguy cơ cao có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung, gây tử vong cho khoảng 250.000 phụ nữ mỗi năm trên toàn cầu. Virus này còn gây ung thư hầu họng (đặc biệt vùng gốc lưỡi và amidan), ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật và hậu môn. Một số chủng khác còn gây ra mụn cóc sinh dục.
Việc kê đơn kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú luôn tiềm ẩn nguy cơ đối với trẻ bú mẹ. Mặc dù, các dữ liệu cho thấy đa số kháng sinh, kháng nấm thường sử dụng, có thể bài tiết vào sữa mẹ nhưng ít gây hại đến trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, vẫn có quan điểm về việc ngưng cho con bú mẹ hoặc trì hoãn điều trị không phù hợp. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của người phụ nữ và ảnh hưởng đến lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ. Do đó, việc xây dựng nguồn thông tin về tính an toàn của nhóm thuốc này đối với phụ nữ cho con bú là rất cần thiết. Đây sẽ là nguồn dữ liệu tham khảo đáng tin cậy để tư vấn và sử dụng kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú. Qua đó, góp phần vào việc sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và hợp lý trên đối tượng người bệnh là phụ nữ đang trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ.
Báo cáo hoạt động theo dõi adr năm 2025 của Bệnh viện Từ Dũ



