Nhìn lại các thuốc dự phòng và điều trị tiền sản giật
Magne sulfat được cân nhắc là điều trị đầu tay để ngăn ngừa cơn sản giật sơ phát và tái phát. Mange sulfat cũng được sử dụng điều trị dự phòng cho tất cả thai phụ tiền sản giật nặng.[4,5] Cơ chế tác dụng của Magne sulfat là kích hoạt giãn mạch máu não, làm giảm thiếu máu cục bộ bởi sự co thắt mạch máu não trong cơn sản giật. Magne sulfat là một thuốc ức chế Canxi nên cũng thay đổi truyền thần kinh cơ. Phác đồ khuyến cáo Magne sulfat như sau: liều tấn công từ 4 đến 6g trong vòng 15 đến 20 phút, sau đó liều duy trì là 2g/h bằng cách truyền tĩnh mạch liên tục.[3,6-8] Magne sulfat được chỉ định lúc khởi đầu giai đoạn quan sát, sau đó tiếp tục trong suốt quá trình chuyển dạ và ít nhất 24 giờ sau sinh. Những sản phụ có chức năng thận không bình thường (thiểu niệu hoặc Creatinin ≥ 1,2 mg/dl), phải giảm liều Magne sulfat, thậm chí ngưng sử dụng. Nồng độ trị liệu của Magne sulfat trong huyết tương khoảng từ 4 đến 8 mg/dl. Dấu hiệu ngộ độc bắt đầu bằng mất phản xạ gân xương bánh chè, suy nhược, hoa mắt, loạn vận ngôn. Ức chế hô hấp hoặc ngừng thở có thể xảy ra khi nồng độ Magne sulphat trong huyết tương > 14 mg/dl.
Kiểm soát huyết áp
Điều trị cao huyết áp nặng, cấp tính trong tiền sản giật là chủ chốt trong ngăn ngừa các tai biến tim mạch, mạch máu não cũng như tử vong mẹ. Điều trị hạ áp nên được chỉ định ở thai phụ có huyết áp tâm thu từ 160 -180 mmHg hoặc cao hơn và huyết áp tâm trương từ 105-110 mmHg hoặc cao hơn.
Hydralazin. Hydralazin là thuốc giãn mạch ngoại vi chọn lọc trên động mạch được sử dụng để hạ áp trong cao huyết áp nặng và thai phụ tiền sản giật. Liều dùng: 5-10 mg IV hoặc IM mỗi 15 phút cho đến liều tối đa là 20 mg IV hoặc 30mg IM. Khởi phát tác dụng từ 10 đến 20 phút. Ghi nhận chỉ số huyết áp mỗi 15 phút trong suốt quá trình trị liệu và các giá trị mong muốn đạt được mỗi giờ một lần. Nếu Hydralazin không hạ áp tương ứng hoặc tác dụng phụ trên mẹ như nhịp tim nhanh hoặc đau đầu tiến triển, nên cân nhắc một thuốc hạ áp khác.[3,6-8]
Labetalol. Labetalol là đại diện cho loại thuốc có tác dụng đối kháng cạnh tranh ở cả các thụ thể adrenergic alpha-1 và beta. Cơ chế tác dụng của Labetalol làm giảm sức cản ngoại biên mà không ảnh hưởng đến lưu lượng máu đến não và ngoại biên hay thận. Liều khuyến cáo là truyền TM 20 mg (mỗi 2 phút) cho đến liều tối đa là 300 mg.[8,9]. Lợi ích tiềm năng của Labetalol so với Hydralazin bao gồm khởi phát tác dụng nhanh hơn và ít nguy cơ bị nhịp tim nhanh hơn. Tuy nhiên, cần tránh dùng Labetalol ở những bệnh nhân hen suyễn trung bình đến nặng, nhịp tim chậm (< 60 nhịp/phút) hoặc suy tim sung huyết. [6-9]
Nifedipin. Nifedipin là thuốc dạng uống, ức chế kênh Canxi loại 2 tức là ức chế chọn lọc dòng ion Canxi đi vào trong tế bào. Nifedipin làm giảm huyết áp mà không ảnh hưởng đến lưu lượng máu qua nhau thai. So sánh với Hydralazin, Nifedipin khởi phát tác dụng nhanh hơn và có những lợi thế của đường uống. Nifedipin chỉ nên được chỉ định ở dạng thuốc uống tác dụng ngắn với liều khởi đầu 10-20 mg mỗi 30 phút đến liều tối đa là 50 mg. [9] Tác dụng không mong muốn chung bao gồm tim đập nhanh, nhức đầu và hồi hợp. Tác dụng hạ huyết áp cộng hưởng với Magne sulphat đã được báo cáo, do đó cần tránh sử dụng 2 thuốc này đồng thời.[3,9]
Nicardipin. Nicardipin hydrochlorid là thuốc chẹn kênh Canxi, có thể là một thay thế cho các thuốc nói trên. Ít gây nhịp tim nhanh hơn khi so với Nifedipin và có tác dụng hạ áp trung bình 15 phút sau khi dùng đường tĩnh mạch. Nicardipin khởi đầu bằng truyền tĩnh mạch với tốc độ 5mg/h và tăng dần 2,5 mg/h mỗi 5 phút cho đến liều tối đa là 10 mg/h hoặc cho đến khi chỉ số huyết áp động mạch giảm đi 15%.[6,9]
Natri nitroprussid. Khi các thuốc kể trên thất bại trong việc hạ áp trong tiền sản giật nặng, có thể chỉ định Nitroprussid. Thuốc này hoạt động thông qua cơ chế phóng thích oxyd nitơ, làm giảm cả tiền gánh và hậu gánh. Khởi phát tác dụng rất nhanh và có thể gây cao huyết áp dội ngược. Thêm vào đó, bệnh nhân có thể bị đau đầu, hồi hợp và ngộ độc Cyanid. Nếu cao huyết áp nặng, khẩn cấp cần thiết phải dùng Natri nitroprussid, liều khởi đầu truyền tĩnh mạch tốc độ 0,20 mcg/kg/ph và điều chỉnh mỗi 5 phút, không vượt quá 4mcg/kg/ph.[6,9]
Dưới đây là bảng tóm tắt các thuốc điều trị cao huyết áp trong tiền sản giật
|
Thuốc |
Liều |
Tác dụng không mong muốn |
|
Hydralazin |
5-10 mg IV hoặc IM mỗi 15 phút cho đến liều tối đa là 20 mg IV hoặc 30 mg IM |
Hạ huyết áp, nhịp tim nhanh, đánh trống ngực, nhức đầu, đỏ bừng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, ứ nước |
|
Labetalol |
Truyền TM chậm 20 mg ( mỗi 2 phút) cho đến liều tối đa là 300 mg |
Hạ huyết áp, chóng mặt, nhức đầu, mệt mỏi, trầm cảm, buồn nôn, nôn, co thắt phế quản |
|
Nifedipin |
10-20 mg uống mỗi 30 phút cho đến liều tối đa là 50 mg |
Nhịp tim nhanh, nhức đầu, đánh trống ngực, phù ngoại biên, tránh dùng chung với Magne sulfate (hạ huyết áp) |
|
Nicardipin |
Truyền IV với tốc độ 5mg/h và tăng 2,5 mg/h mỗi 5 phút cho đến liều tối đa là 10mg/h |
Phù ngoại biên, nhịp tim nhanh, nhức đầu |
|
Natri nitroprussid |
Truyền IV với tốc độ là 0,20 mcg/kg/ph, điều chỉnh dần mỗi 5 phút, không vượt quá 4 mcg/kg/ph |
Hạ huyết áp, buồn nôn, nôn, toát mồ hôi, cao huyết áp dội ngược (do khởi phát tác dụng nhanh chóng), tăng áp lực nội sọ |
(IV: tiêm tĩnh mạch; IM: tiêm bắp; Truyền IV: truyền tĩnh mạch)
Trích nguồn:
Tammy D. Hart, Martha B. Harris.Preeclampsia Revisited. US Pharmacist. 2012;37(9):48-53.
Tài liệu tham khảo:
-
American College of Obstetricians and Gynecologists. Diagnosis and management of preeclampsia and eclampsia. ACOG Practice Bulletin No. 33. Am J Obstet Gynecol. 2002;99:159–167.
-
Sibai BM. Hypertension. In: Gabbe SG, Niebyl JR, Simpson JL, et al, eds. Obstetrics: Normal and Problem Pregnancies. 6th ed. Philadelphia, PA: Saunders; 2012:779–823.
- Lim KH, Erogul M, Sayah A, et al. Preeclampsia. Medscape Reference. http://emedicine.medscape.com/article/1476919-overview. Accessed April 23, 2012.
- The Eclampsia Trial Collaborative Group. Which anticonvulsant for women with eclampsia? Evidence from the Collaborative Eclampsia Trial. Lancet. 1995;345:1455–1463.
- Altman D, Carroli G, Duley L, et al. Do women with pre-eclampsia, and their babies, benefit from magnesium sulphate? The Magpie Trial: a randomised placebo-controlled trial. Lancet. 2002;359:1877–1890.
- McCoy S, Baldwin K. Pharmacotherapeutic options for the treatment of preeclampsia. Am J Health Syst Pharm. 2009;66:337–344.
- Lindheimer MD, Taler SJ, Cunningham FG. ASH position paper: hypertension in pregnancy. J Clin Hypertens. 2009;11:214–225.
- Wagner LK. Diagnosis and management of preeclampsia. Am Fam Physician. 2004;70:2317–2324.
- Drug information. Micromedex Healthcare Series [subscription required]. www.thomsonhc.com/micromedex2/librarian. Accessed May 21, 2012.
Ds. Huỳnh Thị Hồng Gấm (Lược Dịch)
Khoa Dược - BV. Từ Dũ
Lựa chọn biện pháp tránh thai không chỉ dựa trên hiệu quả tránh thai mà còn phải cân nhắc tình trạng sức khỏe, nguy cơ huyết khối – tim mạch, thời điểm sử dụng sau sinh, tình trạng cho con bú, các thuốc dùng đồng thời và mong muốn của người sử dụng.
Tiêm chủng là một phần thiết yếu trong chăm sóc sức khỏe dự phòng cho người lớn, bao gồm cả phụ nữ có thai (PNCT). Từ năm 2023, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) và Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo các thai phụ từ 18 tuổi trở lên nên được sàng lọc bằng xét nghiệm ba chỉ số (HBsAg, anti-HBs và anti-HBc), nếu chưa thực hiện trước đó, để xác định đối tượng dễ mắc bệnh và cần tiêm phòng.
Điều trị nôn và buồn nôn trong thai kỳ (nausea and vomiting of pregnancy- NVP) nhằm các mục tiêu chính: giảm mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống, điều chỉnh tình trạng giảm thể tích tuần hoàn, ceton niệu và rối loạn điện giải. Đồng thời, các biện pháp can thiệp cần ngăn ngừa biến chứng nghiêm trọng của nôn kéo dài như thiếu hụt vitamin hoặc giảm cân, trong khi vẫn đảm bảo tối thiểu hóa ảnh hưởng của thuốc đối với thai nhi.
HPV (Human Papillomavirus – HPV) là một trong số tác nhân gây ra bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất tại Hoa Kỳ. Nhiễm các chủng HPV nguy cơ cao có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung, gây tử vong cho khoảng 250.000 phụ nữ mỗi năm trên toàn cầu. Virus này còn gây ung thư hầu họng (đặc biệt vùng gốc lưỡi và amidan), ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật và hậu môn. Một số chủng khác còn gây ra mụn cóc sinh dục.
Việc kê đơn kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú luôn tiềm ẩn nguy cơ đối với trẻ bú mẹ. Mặc dù, các dữ liệu cho thấy đa số kháng sinh, kháng nấm thường sử dụng, có thể bài tiết vào sữa mẹ nhưng ít gây hại đến trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, vẫn có quan điểm về việc ngưng cho con bú mẹ hoặc trì hoãn điều trị không phù hợp. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của người phụ nữ và ảnh hưởng đến lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ. Do đó, việc xây dựng nguồn thông tin về tính an toàn của nhóm thuốc này đối với phụ nữ cho con bú là rất cần thiết. Đây sẽ là nguồn dữ liệu tham khảo đáng tin cậy để tư vấn và sử dụng kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú. Qua đó, góp phần vào việc sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và hợp lý trên đối tượng người bệnh là phụ nữ đang trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ.
Báo cáo hoạt động theo dõi adr năm 2025 của Bệnh viện Từ Dũ



