Sử dụng Magne Sulfat trong sản phụ khoa: đồng thuận tạm thời của ACOG 2016
DS. Huỳnh Thị Hồng Gấm (Dịch)
Khoa Dược - BV Từ Dũ
Tóm tắt
Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) khuyến cáo chống lại việc sử dụng thuốc tiêm Magne sulfat hơn 5-7 ngày để ngăn chặn sinh non ở thai phụ. Trên cơ sở này, mức độ an toàn của Magne sulfat đối với phụ nữ mang thai thay đổi từ mức phân loại A thành mức phân loại D, và thông tin ghi trên nhãn đã được thay đổi, bao gồm các thông tin cảnh báo mới này. Tuy nhiên, sự thay đổi của FDA trong phân loại làm cho việc sử dụng Magne sulfat trong chăm sóc sản khoa không được chỉ rõ và bất chuẩn. Trường Cao đẳng Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) và Hiệp hội Y khoa bà mẹ-thai nhi (Society for Maternal-fetal medicine) tiếp tục ủng hộ sử dụng Magne sulfat ngắn hạn (thường ít hơn 48 giờ) trong chăm sóc sản khoa cho các điều kiện thích hợp và trong thời gian điều trị thích hợp, trong đó bao gồm phòng chống và điều trị co giật ở thai phụ bị tiền sản giật hoặc sản giật, bảo vệ thần kinh thai nhi trước khi dự đoán là sinh non sớm (dưới 32 tuần tuổi thai), và kéo dài thai kỳ ngắn hạn (đến 48 giờ) để đợi sử dụng corticosteroid trước sinh ở thai phụ có có nguy cơ sinh non trong vòng 7 ngày.
Nội dung
ACOG và Hiệp hội y khoa bà mẹ-thai nhi từ lâu đã ủng hộ việc sử dụng Magne sulfat ngắn hạn trong chăm sóc sản khoa cho các điều kiện thích hợp và trong thời gian điều trị thích hợp. FDA khuyến cáo chống lại việc sử dụng thuốc tiêm Magne sulfat hơn 5-7 ngày để ngăn chặn sinh non ở thai phụ. Trên cơ sở này, mức độ an toàn của Magne sulfat đối với phụ nữ mang thai thay đổi từ mức phân loại A thành mức phân loại D, và thông tin ghi trên nhãn đã được thay đổi, bao gồm thông tin cảnh báo mới này[1]. Thay đổi này được thúc đẩy bởi mối quan tâm đối với khử khoáng xương và gãy xương ở trẻ sơ sinh và thai nhi liên quan đến tiếp xúc với Magne sulfat dài hạn trong tử cung. Những mối quan tâm này dựa trên cả các báo cáo tự nguyện đến hệ thống báo cáo các tác dụng không mong muốn bất lợi của FDA và kết quả từ một số phân tích dịch tễ học, mặc dù các nghiên cứu này có những hạn chế quan trọng trong thiết kế[2-7]. Có 18 trường hợp trong cơ sở dữ liệu của Hệ thống báo cáo tác dụng không mong muốn báo cáo về việc gãy và khử khoáng xương dài ở trẻ sơ sinh và thai nhi. Điều quan trọng cần lưu ý là trong những trường hợp này, thời gian trung bình tiếp xúc với Magne sulfat trước sinh là 9,6 tuần, với tổng liều dùng trung bình của mẹ là 3.700g, một thời gian dài hơn nhiều và liều cao hơn nhiều so với khuyến cáo hiện nay được sử dụng trong sản khoa. Ngoài ra, cỡ mẫu trong dân số nghiên cứu có sẵn nói chung là nhỏ, làm cho các kết luận của các nghiên cứu này bị gây nhiễu và sai lệch[2-7].
Magne sulfat đã được sử dụng trong sản khoa trong nhiều thập kỷ, và hàng ngàn thai phụ đã ghi danh vào các thử nghiệm lâm sàng nghiên cứu hiệu quả của Magne sulfat trước sinh cho nhiều điều kiện[8-11]. Lo ngại về gãy xương và khử khoáng xương ở trẻ sơ sinh và thai nhi chưa tăng thêm từ các nghiên cứu này, bao gồm nghiên cứu gần đây của Magne trong bảo vệ thần kinh. Việc sử dụng Magne sulfat trong bối cảnh thực hành lâm sàng sản khoa thích hợp bao gồm, đặc biệt là phòng chống và điều trị co giật ở thai phụ bị tiền sản giật hoặc sản giật, bảo vệ thần kinh thai nhi trước khi dự đoán là sinh non sớm (dưới 32 tuần tuổi thai)[8,9,12]. Magne sulfat cũng có thể được sử dụng để kéo dài thai kỳ ngắn hạn (đến 48 giờ) để đợi sử dụng corticosteroid trước sinh. Không khuyến cáo sử dụng thuốc giảm gò tử cung cho thai kỳ sau 34 tuần và trước 24 tuần, nhưng có thể cân nhắc dựa trên từng điều kiện cá thể tại thời điểm 23 tuần[13]. Các nhà thực hành không nên ngừng sử dụng Magne sulfat trong các chỉ định này dựa trên việc phân loại lại của FDA. Trong tất cả các điều kiện,không bao giờ chỉ định sử dụng Magne sulfat kéo dài. Do đó, sự thay đổi của FDA trong việc phân loại mức độ an toàn của Magne sulfat làm cho việc sử dụng thuốc này không rõ ràng và bất chuẩn.
Kết luận
ACOG và Hiệp hội y khoa bà mẹ-thai nhi tiếp tục ủng hộ sử dụng Magne sulfat ngắn hạn (thường ít hơn 48 giờ) trong chăm sóc sản khoa cho các điều kiện thích hợp và trong thời gian điều trị thích hợp, trong đó bao gồm những điều sau đây:
- Phòng chống và điều trị co giật ở thai phụ bị tiền sản giật hoặc sản giật
- Bảo vệ thần kinh thai nhi trước khi dự đoán là sinh non sớm (dưới 32 tuần tuổi thai).
- Kéo dài thai kỳ ngắn hạn (đến 48 giờ) để đợi sử dụng corticosteroid trước sinh ở thai phụ có nguy cơ sinh non trong vòng 7 ngày.
Nguồn:
Magnesium sulfat use in obstetrics. Committee Opinion №.652. American College of Obstetricians and Gynecologists. Obstet Gynecol 2016; 127:e52-3.
Tài liệu tham khảo:
- Food and Drug Administration. FDA recommends against prolonged use of magnesium sulfate to stop pre-term labor due to bone changes in exposed babies. FDA Drug Safety Communication. Silver Spring (MD): FDA; 2013. Available at:http://www.fda.gov/downloads/Drugs/DrugSafety/UCM353335.pdf
- Yokoyama K, Takahashi N, Yada Y, Koike Y, Kawamata R, Uehara R, et al. Prolonged maternal magnesium administration and bone metabolism in neonates. Early Hum Dev 2010;86:187–91.
- McGuinness GA, Weinstein MM, Cruikshank DP, Pitkin RM. Effects of magnesium sulfate treatment on perinatal calcium metabolism. II. Neonatal responses. Obstet Gynecol 1980;56:595–600.
- Holcomb WL Jr, Shackelford GD, Petrie RH. Magnesium tocolysis and neonatal bone abnormalities: a controlled study. Obstet Gynecol 1991;78:611–4.
- Schanler RJ, Smith LG Jr, Burns PA. Effects of long-term maternal intravenous magnesium sulfate therapy on neonatal calcium metabolism and bone mineral content. Gynecol Obstet Invest 1997;43:236–41.
- Matsuda Y, Maeda Y, Ito M, Sakamoto H, Masaoka N, Takada M, et al. Effect of magnesium sulfate treatment on neonatal bone abnormalities. Gynecol Obstet Invest 1997;44:82–8.
- Nassar AH, Sakhel K, Maarouf H, Naassan GR, Usta IM. Adverse maternal and neonatal outcome of prolonged course of magnesium sulfate tocolysis. Acta Obstet Gynecol Scand 2006;85:1099–103.
- Magnesium sulfate before anticipated preterm birth for neuroprotection. Committee Opinion No. 455. American College of Obstetricians and Gynecologists. Obstet Gynecol 2010;115:669–71.
- Diagnosis and management of preeclampsia and eclampsia. ACOG Practice Bulletin No. 33. American College of Obstetricians and Gynecologists. Obstet Gynecol 2002;99:159–67.
10. Mercer BM, Merlino AA, Society for Maternal-Fetal Medicine. Magnesium sulfate for preterm labor and preterm birth. Obstet Gynecol 2009;114:650–68.
11. Chronic hypertension in pregnancy. Practice Bulletin No. 125. American College of Obstetricians and Gynecologists. Obstet Gynecol 2012;119:396–407.
12. Management of preterm labor. Practice Bulletin No. 127. American College of Obstetricians and Gynecologists. Obstet Gynecol 2012;119:1308–17.
13. Periviable birth. Obstetric Care Consenus No. 3. American College of Obstetricians and Gynecologists. Obstet Gynecol 2015; e82-94.
Lựa chọn biện pháp tránh thai không chỉ dựa trên hiệu quả tránh thai mà còn phải cân nhắc tình trạng sức khỏe, nguy cơ huyết khối – tim mạch, thời điểm sử dụng sau sinh, tình trạng cho con bú, các thuốc dùng đồng thời và mong muốn của người sử dụng.
Tiêm chủng là một phần thiết yếu trong chăm sóc sức khỏe dự phòng cho người lớn, bao gồm cả phụ nữ có thai (PNCT). Từ năm 2023, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) và Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo các thai phụ từ 18 tuổi trở lên nên được sàng lọc bằng xét nghiệm ba chỉ số (HBsAg, anti-HBs và anti-HBc), nếu chưa thực hiện trước đó, để xác định đối tượng dễ mắc bệnh và cần tiêm phòng.
Điều trị nôn và buồn nôn trong thai kỳ (nausea and vomiting of pregnancy- NVP) nhằm các mục tiêu chính: giảm mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống, điều chỉnh tình trạng giảm thể tích tuần hoàn, ceton niệu và rối loạn điện giải. Đồng thời, các biện pháp can thiệp cần ngăn ngừa biến chứng nghiêm trọng của nôn kéo dài như thiếu hụt vitamin hoặc giảm cân, trong khi vẫn đảm bảo tối thiểu hóa ảnh hưởng của thuốc đối với thai nhi.
HPV (Human Papillomavirus – HPV) là một trong số tác nhân gây ra bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất tại Hoa Kỳ. Nhiễm các chủng HPV nguy cơ cao có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung, gây tử vong cho khoảng 250.000 phụ nữ mỗi năm trên toàn cầu. Virus này còn gây ung thư hầu họng (đặc biệt vùng gốc lưỡi và amidan), ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật và hậu môn. Một số chủng khác còn gây ra mụn cóc sinh dục.
Việc kê đơn kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú luôn tiềm ẩn nguy cơ đối với trẻ bú mẹ. Mặc dù, các dữ liệu cho thấy đa số kháng sinh, kháng nấm thường sử dụng, có thể bài tiết vào sữa mẹ nhưng ít gây hại đến trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, vẫn có quan điểm về việc ngưng cho con bú mẹ hoặc trì hoãn điều trị không phù hợp. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của người phụ nữ và ảnh hưởng đến lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ. Do đó, việc xây dựng nguồn thông tin về tính an toàn của nhóm thuốc này đối với phụ nữ cho con bú là rất cần thiết. Đây sẽ là nguồn dữ liệu tham khảo đáng tin cậy để tư vấn và sử dụng kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú. Qua đó, góp phần vào việc sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và hợp lý trên đối tượng người bệnh là phụ nữ đang trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ.
Báo cáo hoạt động theo dõi adr năm 2025 của Bệnh viện Từ Dũ



