Tác dụng bất lợi mới được ghi nhận của Fluoroquinolon
Ths.Ds Thân Thị Mỹ Linh – Khoa Dược
(lược dịch)
Tháng 7 năm 2018, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ - FDA đã ban hành Cảnh báo an toàn thuốc để cảnh báo cho nhân viên y tế và bệnh nhân về nguy cơ hôn mê hạ đường huyết và rối loạn tâm thần bất lợi liên quan đến việc sử dụng kháng sinh fluoroquinolon.
FDA yêu cầu cập nhật thông tin cảnh báo và biện pháp phòng ngừa đối với tác dụng bất lợi gây hôn mê hạ đường huyết và tác dụng phụ liên quan đến sức khỏe tâm thần vào thông tin kê toa, hướng dẫn sử dụng thuốc cho tất cả các fluoroquinolon dùng đường toàn thân (dạng uống và dạng tiêm).
Các cảnh báo này là kết quả phân tích về các tác dụng phụ sau khi đưa ra thị trường được xác định thông qua hệ thống báo cáo về tác dụng phụ của FDA - FAERS và các tài liệu y khoa được xuất bản. Các phân tích của FDA bao gồm các báo cáo an toàn cho 5 fluoroquinolon là ciprofloxacin, gemifloxacin, levofloxacin, moxifloxacin và ofloxacin. Cảnh báo này không bao gồm delafloxacin, một fluoroquinolon mới được phê duyệt vào tháng 6 năm 2017.
Hôn mê hạ đường huyết
Từ tháng 10 năm 1987 đến tháng 4 năm 2017, FAERS đã nhận được 56 báo cáo về tình trạng hôn mê hạ đường huyết sau khi sử dụng fluoroquinolon. Ngoài ra, các nhà điều tra đã xác định 11 trường hợp được công bố sự liên quan của nhóm thuốc với hôn mê hạ đường huyết. Hầu hết các trường hợp liên quan đến bệnh nhân cao tuổi hoặc những người bị suy thận hoặc tiểu đường. Trong số 47 bệnh nhân đang điều trị bệnh tiểu đường bằng các thuốc hạ đường huyết, 35 bệnh nhân đang dùng sulfonylurea. Tuy nhiên, gần 1/3 các trường hợp được báo cáo là những bệnh nhân không được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường và không được chỉ định các thuốc hạ đường huyết. Trong tổng số 67 trường hợp, 9 bệnh nhân bị tàn tật vĩnh viễn và 13 bệnh nhân tử vong do hạ đường huyết quá nặng. Các chuyên gia FDA lưu ý rằng suy thận có thể đã làm phức tạp hơn tình trạng này.
Tác dụng tâm thần bất lợi
Hệ thống báo cáo về tác dụng phụ sau khi đưa ra thị trường của FDA - FAERS và các tài liệu y khoa được công bố liên quan đến các tác dụng tâm thần bất lợi do sử dung fluoroquinolon.
Nhãn cảnh báo tác dụng bất lợi đối với hệ thần kinh trung ương (CNS) khác nhau giữa các thuốc trong nhóm, bao gồm các cảnh báo về sự lo lắng, lú lẫn, trầm cảm, ảo giác và rối loạn tâm thần.
Để chuẩn hóa ghi nhãn cho cả nhóm, 6 tác dụng phụ sau đây sẽ được đưa vào cảnh báo và phòng ngừa: kích động, mê sảng, mất phương hướng, rối loạn chú ý, suy giảm trí nhớ và hồi hộp. Các tác dụng này đã được quan sát thấy chỉ sau một liều fluoroquinolon.
Các bằng chứng mới được công bố hỗ trợ mạnh mẽ cảnh báo an toàn của FDA. Một phân tích tổng hợp từ 28 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng đánh giá tác dụng phụ của việc sử dụng fluoroquinolon đường uống trong các cơ sở y tế đã xác định nguy cơ tăng tác dụng bất lợi đối với hệ thần kinh trung ương. So với nhóm nghiên cứu kết hợp đánh giá; trong đó macrolid, trimethoprim/sulfamethoxazol, cefuroxim, amoxicillin/acid clavulanic hoặc giả dược là chất so sánh; fluoroquinolon đường uống có nguy cơ cao hơn 40% gây ra các tác dụng phụ bất lợi trên hệ thần kinh trung ương (OR 1,4; khoảng tin cậy 95%; 1,12-1,75). Tuy nhiên, các tác dụng bất lợi được mô tả trong các nghiên cứu ít nghiêm trọng hơn (run, chóng mặt, mất ngủ, suy nhược) so với các tác dụng bất lợi cảnh báo trên nhãn thuốc.
Lưu ý khi điều trị
Cần cân nhắc giữa nguy cơ gây hạ đường huyết hoặc rối loạn tâm thần nghiêm trọng cần với các lợi ích điều trị của các fluoroquinolon cho tất cả bệnh nhân. Nên theo dõi chặt chẽ khi sử dụng fluoroquinolon đường uống và tiêm ở bệnh nhân cao tuổi và những người bị suy thận do tăng nguy cơ tích lũy thuốc, những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường hoặc những người đang dùng thuốc hạ đường huyết do nguy cơ hạ đường huyết nặng.
Lựa chọn các thuốc khác thay thế để điều trị viêm xoang cấp tính, viêm phế quản cấp tính và mãn tính hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu không biến chứng. Hiệp hội bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ IDSA khuyến cáo nên chọn amoxicillin/acid clavulanic thay cho fluoroquinolon là kháng sinh đầu tay điều trị viêm xoang cấp tính do vi khuẩn.
Theo IDSA và hiệp hội Vi trùng học và Bệnh truyền nhiễm Châu Â; amoxicillin-clavulanate, TMP / SMX hoặc nitrofurantoin có thể được sử dụng trong các nhiễm trùng đường tiết niệu không biến chứng thay cho fluoroquinolon.
Chỉ sử dụng fluoroquinolon cho các tình huống lâm sàng mà không có biện pháp thay thế phù hợp để làm giảm tỷ lệ tác dụng phụ nghiêm trọng và nguy cơ biến chứng về sau.
Trong trường hợp bắt buộc phải sử dụng fluoroquinolon, bệnh nhân nên được hướng dẫn tự theo dõi để giảm thiểu rủi ro cho các tác dụng phụ nghiêm trọng. Tất cả bệnh nhân sử dụng fluoroquinolon toàn thân nên được biết về khả năng thay đổi trí nhớ, mức độ chú ý và các chức năng tâm thần khác và phải báo cáo các dấu hiệu về tác dụng bất lợi đối với hệ thần kinh trung ương cho nhân viên y tế. Bệnh nhân tiểu đường cần biết về nguy cơ thay đổi nồng độ glucose trong máu và phải theo dõi đường huyết thường xuyên hơn. Bệnh nhân cần lưu ý các dấu hiệu và triệu chứng của tình trạng hạ đường huyết: lo lắng, nhầm lẫn, tăng nhịp tim, đau đầu và đổ mồ hôi, tiến triển đến co giật hoặc hôn mê nếu không được điều trị thích hợp.
Nếu tác dụng phụ hạ đường huyết hoặc rối loạn thần kinh trung ương nghiêm trọng xảy ra trong khi điều trị bằng fluoroquinolon, nên ngừng thuốc ngay lập tức và sử dụng liệu pháp điều trị khác thay thế.
Kết luận
Trước đây, fluoroquinolon đã có các cảnh báo về khả năng tổn thương gân, cơ, khớp hoặc thần kinh vĩnh viễn và không hồi phục gân, bệnh thần kinh ngoại biên nghiêm trọng và kéo dài khoảng QT. Các rối loạn hiếm gặp nhưng nghiêm trọng về đường huyết và tác dụng phụ của hệ thần kinh trung ương là những bổ sung mới nhất trong hồ sơ an toàn fluoroquinolon. Các nhân viên y tế nên sử dụng thông tin này để lưu ý hơn khi kê đơn chỉ định fluoroquinolone.
Tài liệu tham khảo
Virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncytial Virus-RSV) là một virus RNA sợi đơn thuộc họ Pneumoviridae cùng với metapneumovirus ở người và có hai kiểu gen A và B, bề mặt có nhiều gai glycoprotein (G và F) nằm ngoài màng đó là đích nhận diện của kháng thể1.
Trong những năm gần đây, ngày càng nhiều phụ nữ trung niên tìm đến testosterone như một “liều thuốc hồi sinh”. Những chia sẻ lan truyền trên mạng xã hội cho thấy một làn sóng mới: phụ nữ dùng liều testosterone cao hơn mức sinh lý tự nhiên, thậm chí ngang với mức của nam giới, để cải thiện ham muốn, năng lượng và cảm giác sống mạnh mẽ.
FDA đang xem xét xóa bỏ phần lớn cảnh báo hộp đen trên các sản phẩm estrogen và estrogen – progestin, một động thái nằm trong chiến lược thúc đẩy sử dụng rộng rãi hơn liệu pháp thay thế hormon (HRT) cho phụ nữ sau mãn kinh.
Các thủ thuật phụ khoa như đặt dụng cụ tử cung, sinh thiết nội mạc tử cung, soi cổ tử cung, sinh thiết cổ tử cung, chụp tử cung – vòi trứng, hút lòng tử cung, khoét chóp tử cung bằng vòng điện,… thường được thực hiện trong điều trị ngoại trú. Việc kiểm soát đau hiệu quả là hết sức cần thiết trong quá trình thực hiện các thủ thuật này. Những thuốc được sử dụng để giảm đau bao gồm thuốc gây tê tại chỗ, thuốc giảm đau kháng viêm không steroid (NSAID - Nonsteroidal anti-inflamatory drug), thuốc an thần hoặc thuốc giãn cơ cũng có thể được xem xét trong một số trường hợp. Việc lựa chọn phương pháp giảm đau thay đổi tùy theo loại thủ thuật phụ khoa, đặc điểm của người bệnh cũng như điều kiện sẵn có của cơ sở y tế.
Kháng sinh chiếm gần 80% tổng số đơn thuốc được kê trong thời kỳ mang thai, và khoảng 20%–25% phụ nữ sẽ sử dụng kháng sinh trong thai kỳ. Các bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất bao gồm nhiễm trùng đường tiết niệu (UTIs), nhiễm trùng đường sinh dục, nhiễm trùng da - mô mềm và nhiễm trùng đường hô hấp. Việc sử dụng kháng sinh trong thai kỳ luôn cần được cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích.
Lạc nội mạc tử cung là bệnh lý viêm mạn tính phụ thuộc estrogen, ảnh hưởng khoảng 10% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.
Bệnh đặc trưng bởi sự hiện diện của mô nội mạc tử cung ngoài buồng tử cung, gây đau bụng kinh, đau khi giao hợp, đau vùng chậu kéo dài và vô sinh, làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống.
Điều trị cần được cá thể hóa, tùy theo mức độ triệu chứng, vị trí tổn thương và nhu cầu sinh sản. Hướng dẫn hiện nay khuyến nghị kết hợp giữa điều trị nội khoa, ngoại khoa và hỗ trợ không dùng thuốc.



