Thông tin thuốc: Tháng 03/2013
Nội dung: ĐIỂM TIN CẢNH GIÁC VỀ DƯỢC PHẨM
- Trimetazidin
- Cefepim
- Ondansetron
- Orlistat
- Guanethidin (Ismelin)
- Citalopram (Celexa)
- Dabigatran (Pradaxa)
1. Trimetazidin:
Ngày 22/6/2012, cơ quan quản lý Dược phẩm Châu Âu (EMA) đã ra khuyến cáo hạn chế sử dụng các thuốc chứa Trimetazidin. EMA giới hạn chỉ định của Trimetazidin chỉ được sử dụng như là liệu pháp điều trị bổ sung phối hợp với các thuốc khác cho bệnh nhân đau thắt ngực ổn định khi bệnh nhân không đáp ứng hoặc không dung nạp với các thuốc điều trị đau thắt ngực hàng 1 khác. Với các chỉ định khác của Trimetazidin (chóng mặt, ù tai, rối loạn thị giác), Ủy ban thuốc sử dụng trên người (CHMP) cho rằng lợi ích của thuốc không được chứng minh rõ ràng và không vượt trội hơn so với nguy cơ của thuốc và khuyến cáo loại bỏ các chỉ định này khỏi tờ hướng dẫn sử dụng thuốc.
Đánh giá đầu tiên về Trimetazidin được tiến hành ở Pháp, các báo cáo về rối loạn vận động do dùng thuốc như hội chứng parkinson, hội chứng chân bứt rứt (restless leg syndrom), run, mất thăng bằng tư thế cũng cần được xem xét. Các triệu chứng này có thể hồi phục hoàn toàn trong vòng 4 tháng sau khi ngưng dùng thuốc. Tuy nhiên CHMP đã đưa ra các chống chỉ định và cảnh báo nhằm giảm thiểu và quản lý nguy cơ rối loạn vận động có thể liên quan đến việc dùng Trimetazidin.
Các khuyến cáo của CHMP cho cán bộ y tế như sau:
- Không kê đơn Trimetazidin cho các trường hợp chóng mặt, ù tai, rối loạn thị lực. Những bệnh nhân đang sử dụng Trimetazidin cho các triệu chứng này cần trao đổi với bác sĩ để lựa chọn thuốc thay thế.
- Không nên kê Trimetazidin cho bệnh nhân parkinson, hoặc có triệu chứng tương tự parkinson, run tay, hội chứng chân bứt rứt, các biểu hiện liên quan đến rối loạn vận động, bệnh nhân suy thận nặng, những bệnh nhân rối loạn vận động tiến triển như hội chứng parkinson.
- Có thể tiếp tục kê đơn Trimetazidin để điều trị triệu chứng cho bệnh nhân đau thắt ngực không đáp ứng đầy đủ hoặc không dung nạp với các thuốc điều trị đau thắt ngực hàng 1 khác.
- Thận trọng khi kê đơn cho người suy thận mức độ trung bình và người cao tuổi, có thể xem xét giảm liều ở những bệnh nhân này.
Nếu hôi chứng parkinson kéo dài hơn 4 tháng sau khi ngừng thuốc cần xin ý kiến của bác sĩ chuyên khoa thần kinh.
2. Cefepim:
Cefepim và nguy cơ gây động kinh ở người bệnh không được hiệu chỉnh liều lượng trong trường hợp suy thận.
Ngày 26/6/2012, FDA đã đưa ra khuyến cáo đến cán bộ y tế về việc điều chỉnh liều của kháng sinh Cefepim cho bệnh nhân suy thận do xuất hiện trường hợp động kinh trên bệnh nhân suy thận không được hiệu chỉnh liều. Để giảm thiểu nguy cơ này, cán bộ y tế phải hiệu chỉnh liều dùng cho bệnh nhân có độ thanh thải creatinin ≤ 60ml/phút. Nếu xảy ra cơn động kinh liên quan đến việc dùng cefipim cần xem xét ngừng dùng thuốc hay hiệu chỉnh liều thích hợp.
3. Ondansetron:
Ngày 2/8/2012, cơ quan quản lý Dược phẩm Anh (MHRA) đã đưa ra giới hạn liều cho Ondansetron để giảm nguy cơ gây kéo dài khoảng QT và rối loạn nhịp tim. Liều duy nhất tĩnh mạch được chỉ định cho buồn nôn và nôn do hóa trị liệu ở người lớn không vượt quá 16mg (truyền trong ít nhất 15 phút). Chống chỉ định cho bệnh nhân có khoảng QT dài bẩm sinh, bệnh nhân có yếu tố khoảng QT kéo dài và rối loạn nhịp tim.
Trước đó, ngày 29/6/2012, FDA cũng thông báo cho cán bộ y tế về kết quả sơ bộ từ một nghiên cứu lâm sàng về liều duy nhất tiêm tĩnh mạch 32mg của biệt dược Zofran (Ondansetron) có thể ảnh hưởng đến điện tâm đồ (kéo dài khoảng QT) ở bệnh nhân có tiền sử về nhịp tim bất thường có khả năng gây tử vong.
Hãng dược phẩm GSK đã công bố bổ sung thông tin trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc zofran để bỏ liều duy nhất 32mg tiêm tĩnh mạch. Hướng dẫn mới nêu rõ Ondansetron có thể tiếp tục dùng cho người lớn và trẻ em với mỗi liều 0,15 mg/kg dùng trong mỗi 4 giờ cho 3 liều và không tiêm tĩnh mạch liều duy nhất vượt quá 16mg.
4. Orlistat:
Ngày 30/3/2012, Afssaps đã công bố kết quả của việc đánh giá lợi ích/nguy cơ của Orlistat, EMA đã tiến hành đánh giá sau một vài trường hợp tổn thương gan nghiêm trọng xảy ra ở những bệnh nhân dùng Orlistat. Từ kết quả đánh giá, EMA khẳng định lợi ích của Orlistat vẫn lớn hơn nguy cơ của thuốc. Tuy nhiên, EMA khuyến cáo tất cả các tờ tóm tắt đặc tính sản phẩm và tờ hướng dẫn sử dụng các chế phẩm chứa Orlistat cần bổ sung thông tin cảnh báo về tổn thương gan nghiêm trọng.
5. Guanethidin (Ismelin):
Ngày 22/3/2012, Afssaps ngưng cấp giấy phép cho chế phẩm Ismellin (Guanethidine monosulfat) đường tiêm tĩnh mạch sử dụng trong điều trị Hội chứng đau khu vực phức tạp hay rối loạn phản xạ giao cảm (CRPS)
6. Citalopram (Celexa):
Ngày 28/3/2012, cơ quan Quản lý Dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã công bố thông tin an toàn thuốc quy định liều dùng và cảnh báo cho thuốc chống trầm cảm Celexa. Tháng 8/2011, FDA đã có cảnh báo về việc sử dụng Celexa với liều lớn hơn 40mg có thể gây nhịp tim bất thường. Với những bệnh nhân có nguy cơ kéo dài khoảng QT, chậm nhịp tim, hạ kali máu… không nên sử dụng Celexa ở bất kỳ liều lượng nào. Đối với bệnh nhân trên 60 tuổi và bệnh nhân suy gan cũng cần điều chỉnh liều lương, tối đa cho phép là 20mg/ngày.
7. Dabigatran (Pradaxa):
Pradaxa là thuốc chống đông máu được chỉ định cho người lớn để dự phòng huyết khối tĩnh mạch sau phẫu thuật thay thế khớp gối và khớp háng. Thuốc cũng được chỉ định để dự phòng đột quỵ và tắc mạch hệ thống cho bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim có ít nhất một yếu tố nguy cơ tim mạch.
Ngày 25/5/2012, Ủy ban các sản phẩm thuốc dùng cho người (CHMP) của cơ quan quản lý Dược phẩm châu Âu (EMA) đã đưa ra kết luận rằng: lợi ích của Pradaxa vẫn vượt trội hơn so với nguy cơ của thuốc. CHMP có bổ sung thêm một số khuyến cáo dành cho cán bộ y tế như sau:
- Cần chú ý các khuyến cáo liên quan đến nguy cơ xuất huyết khi dùng Pradaxa bao gồm việc đánh giá chức năng thận của tất cả các bệnh nhân trước khi điều trị. Trong quá trình điều trị nếu nghi ngờ bệnh nhân có suy giảm chức năng thận thì cần đánh giá lại và giảm liều cho bệnh nhân trong trường hợp cần thiết.
- Chống chỉ định trong trường hợp bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao như:
* Đang bị hoặc có tiền sử mới bị loét đường tiêu hóa
* Có khối u ác tính có nguy cơ chảy máu cao
* Mới mắc chấn thương não hay chấn thương cột sống
* Phẫu thuật não, cột sống hoặc nhãn khoa trong thời gian gần
* Mới bị xuất huyết não
* Nghi ngờ hoặc có chẩn đoán bị giãn vỡ tĩnh mạch thực quản
* Dị tật động mạch, phình mạch hay mạch não, mạch tủy có bất thường lớn.
- Chống chỉ định dùng đồng thời Pradaxa với Dronedaron, với các thuốc chống đông khác như Hepain thường, hepain phân tử lượng thấp, các thuốc chống đông đường uống (Warfarin, Rivaroxaban , Apixaban,,,) trừ trường hợp chuyển đổi từ các thuốc này sang Dabigatran hay ngược lại.
- Quản lý nguy cơ chảy máu:
* Không có thuốc giải độc đặc hiệu cho Dagibatran, nếu có biểu hiện tác dụng chống đông quá mức nên ngừng điều trị.
* Trong trường hợp có biến chứng xuất huyết, cần ngưng dùng Dagibatran, xác định vị trí xuất huyết, duy trì bài niệu và cân nhắc các biện pháp điều trị hỗ trợ như phẫu thuật cầm máu hay truyền máu.
* Có thể sử dụng dung dịch phức hợp prothrombin cô đặc hoặc yếu tố VIIa tái tổ hợp hay dung dịch cô đặc chứa yếu tố II, IX, X. Kết quả xét nghiệm đông máu có thể không chính xác sau khi dùng thuốc đối kháng, do đó cần thận trọng khi biện giải kết quả xét nghiệm.
* Bệnh nhân cần được cảnh báo về khả năng tăng nguy cơ xuất huyết. Trong quá trình điều trị nếu bị té ngã, bị thương, đặc biệt là ở đầu cần đến ngay cơ sở điều trị.
Tài liệu:
- Bản tin Cảnh giác Dược
- Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Phản ứng có hại của thuốc
- http://canhgiacduoc.org.vn
Virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncytial Virus-RSV) là một virus RNA sợi đơn thuộc họ Pneumoviridae cùng với metapneumovirus ở người và có hai kiểu gen A và B, bề mặt có nhiều gai glycoprotein (G và F) nằm ngoài màng đó là đích nhận diện của kháng thể1.
Trong những năm gần đây, ngày càng nhiều phụ nữ trung niên tìm đến testosterone như một “liều thuốc hồi sinh”. Những chia sẻ lan truyền trên mạng xã hội cho thấy một làn sóng mới: phụ nữ dùng liều testosterone cao hơn mức sinh lý tự nhiên, thậm chí ngang với mức của nam giới, để cải thiện ham muốn, năng lượng và cảm giác sống mạnh mẽ.
FDA đang xem xét xóa bỏ phần lớn cảnh báo hộp đen trên các sản phẩm estrogen và estrogen – progestin, một động thái nằm trong chiến lược thúc đẩy sử dụng rộng rãi hơn liệu pháp thay thế hormon (HRT) cho phụ nữ sau mãn kinh.
Các thủ thuật phụ khoa như đặt dụng cụ tử cung, sinh thiết nội mạc tử cung, soi cổ tử cung, sinh thiết cổ tử cung, chụp tử cung – vòi trứng, hút lòng tử cung, khoét chóp tử cung bằng vòng điện,… thường được thực hiện trong điều trị ngoại trú. Việc kiểm soát đau hiệu quả là hết sức cần thiết trong quá trình thực hiện các thủ thuật này. Những thuốc được sử dụng để giảm đau bao gồm thuốc gây tê tại chỗ, thuốc giảm đau kháng viêm không steroid (NSAID - Nonsteroidal anti-inflamatory drug), thuốc an thần hoặc thuốc giãn cơ cũng có thể được xem xét trong một số trường hợp. Việc lựa chọn phương pháp giảm đau thay đổi tùy theo loại thủ thuật phụ khoa, đặc điểm của người bệnh cũng như điều kiện sẵn có của cơ sở y tế.
Kháng sinh chiếm gần 80% tổng số đơn thuốc được kê trong thời kỳ mang thai, và khoảng 20%–25% phụ nữ sẽ sử dụng kháng sinh trong thai kỳ. Các bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất bao gồm nhiễm trùng đường tiết niệu (UTIs), nhiễm trùng đường sinh dục, nhiễm trùng da - mô mềm và nhiễm trùng đường hô hấp. Việc sử dụng kháng sinh trong thai kỳ luôn cần được cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích.
Lạc nội mạc tử cung là bệnh lý viêm mạn tính phụ thuộc estrogen, ảnh hưởng khoảng 10% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.
Bệnh đặc trưng bởi sự hiện diện của mô nội mạc tử cung ngoài buồng tử cung, gây đau bụng kinh, đau khi giao hợp, đau vùng chậu kéo dài và vô sinh, làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống.
Điều trị cần được cá thể hóa, tùy theo mức độ triệu chứng, vị trí tổn thương và nhu cầu sinh sản. Hướng dẫn hiện nay khuyến nghị kết hợp giữa điều trị nội khoa, ngoại khoa và hỗ trợ không dùng thuốc.



