Thông tin thuốc tháng 12/2025" cập nhật dự phòng virus hợp bào hô hấp
Virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncytial Virus-RSV) là một virus RNA sợi đơn thuộc họ Pneumoviridae cùng với metapneumovirus ở người và có hai kiểu gen A và B, bề mặt có nhiều gai glycoprotein (G và F) nằm ngoài màng đó là đích nhận diện của kháng thể1. RSV là tác nhân gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới (LRTI) nghiêm trọng thường gặp như viêm tiểu phế quản hoặc viêm phổi ở trẻ sơ sinh, người lớn tuổi và nhóm người có bệnh nền. Virus lây lan qua đường hô hấp, khi người bệnh ho hoặc hắt hơi, tiếp xúc trực tiếp với người bệnh hoặc chạm vào các bề mặt nhiễm virus. Hiện nay, không có phương pháp điều trị kháng virus đặc hiệu cho bệnh RSV nặng, ngoại trừ ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch nghiêm trọng và không có vaccin được cấp phép cho trẻ em. Tỷ lệ nhập viện ở người lớn bị nhiễm RSV cao hơn ở những người có bệnh nền như hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính hoặc suy tim sung huyết.

Hình. Cấu trúc virus hợp bào hô hấp
RSV là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra bệnh hô hấp ở trẻ em và dẫn đến các đợt bùng phát bệnh hô hấp hàng năm ở mọi lứa tuổi. Tại Hoa Kỳ, ước tính có khoảng 58.000–80.000 trẻ em dưới 5 tuổi phải nhập viện mỗi năm vì nhiễm RSV. Tỷ lệ nhập viện cao nhất ở trẻ sơ sinh 0-6 tháng tuổi. Mỗi năm, ước tính có khoảng 100-300 trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt dưới 6 tháng tuổi, tử vong vì RSV ở Hoa Kỳ 2.
Năm 2023, vaccin RSVpreF (Abrysvo) là vaccin duy nhất được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) và Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo sử dụng trong thời kỳ mang thai để ngăn ngừa nhiễm RSV nặng ở trẻ sơ sinh 2,3.
Ngày nay, có hai kháng thể đơn dòng tác dụng kéo dài giúp ngăn ngừa RSV nặng ở trẻ sơ sinh đến 7 tháng tuổi với liều duy nhất (nirsevimab, clesrovimab), không có khuyến cáo ưu tiên sử dụng clesrovimab so với nirsevimab. Năm 2023, nirsevimab được phê duyệt và khuyến cáo sử dụng; clesrovimab được FDA (tháng 6/2025) và CDC (tháng 8/2025) phê duyệt. Chỉ định khi phụ nữ có thai (PNCT) không được tiêm vaccin RSVpreF hoặc trẻ sinh ra trong vòng 14 ngày kể từ khi người mẹ được tiêm vaccin. Thời điểm tối ưu để sử dụng kháng thể đơn dòng là ngay lúc sinh hoặc trong tuần đầu sau khi sinh. Những trẻ không được tiêm kháng thể đơn dòng khi sinh có thể tiêm bất cứ lúc nào trước khi đủ 8 tháng tuổi. Khuyến cáo rằng trẻ sơ sinh được sinh ra từ những PNCT đã được tiêm vaccin RSV trong lần mang thai trước thì nên tiêm kháng thể đơn dòng vì PNCT hiện chưa được chỉ định liều tiêm vaccin lặp lại 2.
1. Phân loại
Có hai nhóm chính ngăn ngừa virus hợp bào hô hấp:
|
Phân loại |
Cơ chế hoạt động |
Tác dụng |
Đối tượng |
|
Vaccin |
Miễn dịch chủ động (vaccin kích thích cơ thể tự sản xuất kháng thể RSV đặc hiệu) |
Tạo ra kháng thể bảo vệ kéo dài sau khi tiêm |
- Phụ nữ có thai - Người lớn tuổi (≥ 75 tuổi và người lớn từ 50-74 tuổi có nguy cơ cao mắc RSV nặng) 4 |
|
Kháng thể đơn dòng |
Miễn dịch thụ động (kháng thể được tạo sẵn từ bên ngoài đưa vào cơ thể) |
Tạo ra sự bảo vệ nhanh sau khi tiêm (hiệu quả kéo dài ít nhất 5 tháng) |
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ |
2. Triệu chứng
Các triệu chứng thường xuất hiện sau 4-7 ngày tiếp xúc với virus. Các dấu hiệu như khó thở, thở nhanh, khò khè, ho, viêm họng, sổ mũi, nghẹt mũi; viêm phế quản có sốt, viêm phổi, viêm tiểu phế quản... Các triệu chứng có thể diễn tiến nhanh và gây tử vong 1.
3. Chỉ định
- Phụ nữ có thai: Tiêm 1 liều vaccin duy nhất, trong tuần thứ 32-36 tuần của thai kỳ, giúp truyền kháng thể thụ động bảo vệ trẻ sơ sinh trong 6 tháng đầu, giai đoạn có nguy cơ cao mắc viêm tiểu phế quản và viêm phổi do RSV 5.
- Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ: tiêm 1 liều kháng thể đơn dòng
+ Trẻ sơ sinh (< 8 tháng tuổi) được sinh ra từ những PNCT không tiêm vaccin RSV
+ Trẻ nhỏ (8-9 tháng tuổi) có nguy cơ cao mắc RSV nặng (chỉ định nirsevimab)
- Người lớn tuổi: CDC khuyến nghị tiêm 1 liều cho người lớn ≥ 75 tuổi và cho người lớn từ 50-74 tuổi có nguy cơ cao mắc RSV nặng (Bệnh tim hoặc phổi mãn tính, miễn dịch suy giảm, sống trong viện dưỡng lão) 2,4.
4. Chống chỉ định
- Chống chỉ định tuyệt đối với người bệnh có tiền sử dị ứng nặng với bất kỳ thành phần nào của vaccin hoặc sau 1 liều tiêm.
- Người có bệnh cấp tính nặng hoặc đang sốt cao
- PNCT < 32 tuần hoặc > 36 tuần
- Người suy giảm miễn dịch nặng
5. Tác dụng phụ
Các tác dụng phụ có thể gặp như đau, đỏ và sưng nơi tiêm, mệt mỏi, sốt, nhức đầu, buồn nôn, tiêu chảy và đau cơ hoặc khớp có thể xảy ra sau khi tiêm. Rối loạn tăng huyết áp khi mang thai, bao gồm tiền sản giật. Hội chứng Guillain-Barré (GBS) gia tăng ở người lớn tuổi sau khi tiêm Arexvy hoặc Abrysvo 2.
6. Một số loại vaccin RSV- kháng thể đơn dòng 2,6
|
Phân loại |
Tên sản phẩm |
Đối tượng |
Đặc điểm |
|
vaccin |
Abrysvo
|
PNCT Người lớn tuổi |
Vaccin duy nhất được phê duyệt cho PNCT (bảo vệ thụ động cho trẻ sơ sinh) |
|
Arexvy |
Người lớn tuổi |
Vaccin được phê duyệt cho người lớn tuổi, không được phê duyệt cho PNCT |
|
|
mRESVIA |
Người lớn tuổi |
Vaccin chứa phân tử mARN, tổng hợp glycoprotein F của RSV-A |
|
|
Kháng thể đơn dòng |
Nirsevimab (Beyfortus) |
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ |
-Trẻ sơ sinh (< 8 tháng tuổi) được sinh ra từ những người mẹ không tiêm vaccin RSV
-Trẻ nhỏ (8-9 tháng tuổi) có nguy cơ cao mắc RSV nặng |
|
Clesrovimab (Enflonsia) |
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ |
Trẻ sơ sinh (< 8 tháng tuổi) được sinh ra từ những người mẹ không tiêm vaccin RSV |
|
|
Palivizumab (Synagis) |
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nguy cơ cao (sinh non ≤ 35 tuần tuổi và < 6 tháng tuổi, bệnh tim, bệnh phổi mạn tính) |
Tiêm hàng tháng trong suốt mùa RSV để duy trì hiệu quả bảo vệ. |
Tài liệu tham khảo
1. WHO. https://www.Respiratory syncytial virus (RSV), Last updated March 2025, Accessed on 02/12/2025.
2. ACOG. Maternal Respiratory Syncytial Virus Vaccination https://www. Maternal Respiratory Syncytial Virus Vaccination | ACOG, 2023, Last updated October 2025, Accessed on 02/12/2025.
3. Fleming-Dutra, et all (2023). Use of the Pfizer Respiratory Syncytial Virus Vaccine During Pregnancy for the Prevention of Respiratory Syncytial Virus-Associated Lower Respiratory Tract Disease in Infants: Recommendations of the Advisory Committee on Immunization Practices - United States, 2023. MMWR. Morbidity and mortality weekly report, 72(41), 1115–1122. https://doi.org/10.15585/mmwr.mm7241e1
4. CDC, Vaccines for Adults. https://www. Vaccines for Adults | RSV | CDC, Last updated July 2025, Accessed on 03/12/2025.
5. CDC, RSV Vaccine Guidance for Pregnant Women, Respiratory Syncytial Virus Infection (RSV). https://www. RSV Vaccine Guidance for Pregnant Women | RSV | CDC, Accessed on 03/12/2025.
6. Thông tin sản phẩm
Trong những năm gần đây, ngày càng nhiều phụ nữ trung niên tìm đến testosterone như một “liều thuốc hồi sinh”. Những chia sẻ lan truyền trên mạng xã hội cho thấy một làn sóng mới: phụ nữ dùng liều testosterone cao hơn mức sinh lý tự nhiên, thậm chí ngang với mức của nam giới, để cải thiện ham muốn, năng lượng và cảm giác sống mạnh mẽ.
FDA đang xem xét xóa bỏ phần lớn cảnh báo hộp đen trên các sản phẩm estrogen và estrogen – progestin, một động thái nằm trong chiến lược thúc đẩy sử dụng rộng rãi hơn liệu pháp thay thế hormon (HRT) cho phụ nữ sau mãn kinh.
Các thủ thuật phụ khoa như đặt dụng cụ tử cung, sinh thiết nội mạc tử cung, soi cổ tử cung, sinh thiết cổ tử cung, chụp tử cung – vòi trứng, hút lòng tử cung, khoét chóp tử cung bằng vòng điện,… thường được thực hiện trong điều trị ngoại trú. Việc kiểm soát đau hiệu quả là hết sức cần thiết trong quá trình thực hiện các thủ thuật này. Những thuốc được sử dụng để giảm đau bao gồm thuốc gây tê tại chỗ, thuốc giảm đau kháng viêm không steroid (NSAID - Nonsteroidal anti-inflamatory drug), thuốc an thần hoặc thuốc giãn cơ cũng có thể được xem xét trong một số trường hợp. Việc lựa chọn phương pháp giảm đau thay đổi tùy theo loại thủ thuật phụ khoa, đặc điểm của người bệnh cũng như điều kiện sẵn có của cơ sở y tế.
Kháng sinh chiếm gần 80% tổng số đơn thuốc được kê trong thời kỳ mang thai, và khoảng 20%–25% phụ nữ sẽ sử dụng kháng sinh trong thai kỳ. Các bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất bao gồm nhiễm trùng đường tiết niệu (UTIs), nhiễm trùng đường sinh dục, nhiễm trùng da - mô mềm và nhiễm trùng đường hô hấp. Việc sử dụng kháng sinh trong thai kỳ luôn cần được cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích.
Lạc nội mạc tử cung là bệnh lý viêm mạn tính phụ thuộc estrogen, ảnh hưởng khoảng 10% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.
Bệnh đặc trưng bởi sự hiện diện của mô nội mạc tử cung ngoài buồng tử cung, gây đau bụng kinh, đau khi giao hợp, đau vùng chậu kéo dài và vô sinh, làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống.
Điều trị cần được cá thể hóa, tùy theo mức độ triệu chứng, vị trí tổn thương và nhu cầu sinh sản. Hướng dẫn hiện nay khuyến nghị kết hợp giữa điều trị nội khoa, ngoại khoa và hỗ trợ không dùng thuốc.
Phản ứng có hại của thuốc (ADR) là vấn đề thường gặp trong thực hành lâm sàng và có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, tính mạng người bệnh nếu không được nhận biết sớm và xử trí kịp thời.



