Thuốc dự phòng và điều trị viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh
Ds. Nguyễn Tấn Xuân Trang (Dịch)
Khoa Dược – BV Từ Dũ
Trẻ sơ sinh bị viêm kết mạc có nguy cơ bị nhiễm trùng thứ phát (viêm phổi, viêm màng não và nhiễm trùng huyết), có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết và tử vong. Do đó trẻ nên được nhập viện để khám và điều trị đầy đủ. (1)
1. Nguyên nhân và triệu chứng: (2)
Nguyên nhân viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh rất khó xác định vì trong nhiều trường hợp, các triệu chứng không khác nhau.Viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh có thể được gây ra bởi tắc tuyến lệ, nhiễm trùng hay bị kích ứng khi dùng kháng sinh nhỏ mắt lúc mới sinh để phòng ngừa một số bệnh từ đường sinh dục mẹ lây qua con. Người mẹ có thể không có triệu chứng vào thời điểm sinh nhưng có thể có mang vi khuẩn hoặc virus có thể lây nhiễm cho con. Viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh gây ra bởi các bệnh lây truyền qua đường tình dục (như lậu, chlamydia) có thể rất nghiêm trọng.
Viêm kết mạc do Chlamydia: Do Chlamydia trachomatis từ mẹ truyền qua con trong khi sinh với các triệu chứng mắt đỏ, sưng mi mắt, dử mắt dạng mủ xuất hiện vào khoảng ngày thứ 5 – 12 sau sinh.
Viêm kết mạc do lậu cầu: Do Neisseria gonorrhoeae từ mẹ truyền qua con trong khi sinh với các triệu chứng mắt đỏ, dử mắt dạng mủ đóng dày, sưng mi mắt xuất hiện vào khoảng ngày thứ 2 – 4 sau sinh.
Viêm kết mạc hóa: Khi dùng thuốc nhỏ mắt cho trẻ sơ sinh để giúp ngăn ngừa một số bệnh nhiễm khuẩn, mắt của trẻ có thể bị kích ứng và gây nên viêm kết mạc hóa với các triệu chứng như mắt đỏ nhẹ, sưng mi mắt nhưng chỉ trong vòng 24 – 36 giờ.
Viêm kết mạc do các vi khuẩn khác: Thường ít phổ biến hơn do Chlamydia và lậu cầu. Một số các vi khuẩn gram (+) thường gặp bao gồm Staphylococcus aureus, Streptococcus pneumoniae, Streptococcus viridans và Staphylococcus epidermidis. Các vi khuẩn này chiếm khoảng 30 – 50% các trường hợp viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh. Ngoài ra, cũng có thể do các vi khuẩn gram (-) như Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, Serratia marcescens, Proteus, Enterobacte và Pseudomonas. Đã có trường hợp báo cáo viêm kết mạc ở trẻ do Eikenella corrodens. Các trẻ sinh non, nhẹ cân nằm trong NICU khi có những dấu hiệu lâm sàng bị viêm kết mạc thường được nghi ngờ là do các chủng gram (-). (1)
Viêm kết mạc do virus herpes: Hiếm xảy ra (< 1%). Trẻ thường mắc bệnh do sự lây truyền từ mẹ trong quá trình sinh. Nên mổ lấy thai vì tỷ lệ nguy cơ lây nhiễm virus từ mẹ qua ngã âm đạo là 25 – 60%.
2. Phòng ngừa: (1), (2)
Để phòng ngừa, trước đây, bạc nitrat thường được sử dụng. Bạc nitrat là một chất hoạt động bề mặt, làm bất hoạt các vi khuẩn lậu cầu. Nhưng sau này, bạc nitrat được cho là độc với kết mạc, có khả năng gây ra viêm kết mạc hóa ở trẻ sơ sinh. Vì vậy, hiện nay đã được thay thế bằng những thuốc kháng sinh nhỏ mắt như là erythromycin.
Theo RedBook 2012, erythromycin 0,5% và tetracycline 1% có hiệu quả tương đương nhau trong dự phòng nhiễm trùng mắt do lậu cầu ở trẻ sơ sinh. Bạc nitrat, povidone iodine và erythromycin đều có hiệu quả trong phòng ngừa viêm kết mạc không do lậu cầu và Chlamydia ở trẻ sơ sinh. Không có thuốc có hiệu quả trong việc ngăn sự lây truyền C. trachomatis từ mẹ sang con. Đây là điểm khác biệt so với RedBook 2009, trong đó cho rằng erythromycin, bạc nitrat có thể phòng ngừa sự lây truyền này.
Dung dịch povidone – iodine (2,5%) là có hiệu quả trong việc ngừa viêm mắt ở trẻ sơ sinh. Povidone – iodine được sử dụng rộng rãi ngoài Hoa Kỳ. Thuốc không có ở Hoa Kỳ mặc dù đã được sự chấp thuận của FDA.
Bạc nitrat là tác nhân có hiệu quả tốt nhất trong phòng ngừa chủng N. gonorrhoeae tiết penicillinase.
Các khuyến nghị dự phòng viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh trong RedBook 2012 như sau: 2 giọt bạc nitrat 1% hoặc thuốc mỡ kháng sinh (erythromycin, tetracycline) với lượng vừa đủ tạo lớp màng dày khoảng 1cm. Trong đó, erythromycin được coi là tốt nhất để phòng ngừa viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh vì có hiệu quả trên vi khuẩn lậu cầu, các mầm bệnh khác không do lậu cầu và chlamydia và cũng ít gây ra viêm kết mạc hóa.
3. Điều trị: (1), (2)
Để điều trị, kháng sinh dùng tại chỗ (thuốc nhỏ mắt, thuốc mỡ), dùng đường uống hay tiêm tĩnh mạch hay kết hợp các đường này đều được sử dụng tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh và vi sinh vật mắc phải. Điều trị viêm kết mạc do lậu cầu rất quan trọng vì vi khuẩn này có thể xâm nhập vào biểu mô giác mạc còn nguyên vẹn và nhanh chóng gây loét giác mạc. Vì sự tiến triển nhanh chóng của viêm kết mạc do lậu cầu nên khi trẻ sơ sinh bị viêm kết mạc cấp tính nên được điều trị viêm kết mạc do lậu cầu cho đến khi có kết quả xét nghiệm. Điều trị theo kinh nghiệm bằng thuốc mỡ erythromycin và cephalosporin thế hệ thứ 3 IV/ IM. Bên cạnh đó nên kết hợp rửa sạch mắt bị viêm của trẻ với nước muối sinh lý để loại bỏ mủ có thể có trong mắt.
Nếu viêm kết mạc do tắc tuyến lệ nên xoa bóp nhẹ nhàng giữa mắt và vùng mũi. Nếu bệnh không hết sau 1 tuổi, có thể tiến hành phẫu thuật.
Viêm kết mạc do Chlamydia: Kháng sinh uống thường được dùng để điều trị: erythromycin (50 mg/kg/ngày, chia 4 lần/ ngày) trong 14 ngày. Chỉ điều trị tại chỗ là không hiệu quả vì không loại bỏ được các vi khuẩn trong mũi hầu của trẻ sơ sinh và những vi khuẩn này có thể dẫn đến viêm phổi gây đe dọa tính mạng nếu không được điều trị. Tuy nhiên, hiệu quả điều trị của erythromycin toàn thân là khoảng 80% nên thường phải kết hợp với kháng sinh tại chỗ (thuốc mỡ erythromycin) như biện pháp bổ sung.
Viêm kết mạc do lậu cầu: Kháng sinh IV thường được sử dụng. Nếu bệnh không được điều trị có thể dẫn đến loét giác mạc và mù lòa.
Viêm kết mạc hóa: Việc điều trị thường không cần thiết. Các triệu chứng sẽ được cải thiện trong 24 – 36 giờ.
Viêm kết mạc do virus herpes: Trẻ sơ sinh cần được điều trị bằng acyclovir để giảm nguy cơ nhiễm trùng cơ hội toàn thân. Liều khuyến cáo 60 mg/ kg/ ngày IV, chia 3 lần/ ngày trong tối thiểu 14 ngày, có thể kéo dài tới 21 ngày.
Kháng sinh tại chỗ cũng có thể được xem xét nếu có nhiễm khuẩn thứ phát trong các trường hợp dị tật biểu mô.
Tài liệu tham khảo:
1. http://emedicine.medscape.com/article/1192190-treatment
2. http://www.cdc.gov/conjunctivitis/newborns.html
Lựa chọn biện pháp tránh thai không chỉ dựa trên hiệu quả tránh thai mà còn phải cân nhắc tình trạng sức khỏe, nguy cơ huyết khối – tim mạch, thời điểm sử dụng sau sinh, tình trạng cho con bú, các thuốc dùng đồng thời và mong muốn của người sử dụng.
Tiêm chủng là một phần thiết yếu trong chăm sóc sức khỏe dự phòng cho người lớn, bao gồm cả phụ nữ có thai (PNCT). Từ năm 2023, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) và Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo các thai phụ từ 18 tuổi trở lên nên được sàng lọc bằng xét nghiệm ba chỉ số (HBsAg, anti-HBs và anti-HBc), nếu chưa thực hiện trước đó, để xác định đối tượng dễ mắc bệnh và cần tiêm phòng.
Điều trị nôn và buồn nôn trong thai kỳ (nausea and vomiting of pregnancy- NVP) nhằm các mục tiêu chính: giảm mức độ nghiêm trọng của triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống, điều chỉnh tình trạng giảm thể tích tuần hoàn, ceton niệu và rối loạn điện giải. Đồng thời, các biện pháp can thiệp cần ngăn ngừa biến chứng nghiêm trọng của nôn kéo dài như thiếu hụt vitamin hoặc giảm cân, trong khi vẫn đảm bảo tối thiểu hóa ảnh hưởng của thuốc đối với thai nhi.
HPV (Human Papillomavirus – HPV) là một trong số tác nhân gây ra bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất tại Hoa Kỳ. Nhiễm các chủng HPV nguy cơ cao có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung, gây tử vong cho khoảng 250.000 phụ nữ mỗi năm trên toàn cầu. Virus này còn gây ung thư hầu họng (đặc biệt vùng gốc lưỡi và amidan), ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật và hậu môn. Một số chủng khác còn gây ra mụn cóc sinh dục.
Việc kê đơn kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú luôn tiềm ẩn nguy cơ đối với trẻ bú mẹ. Mặc dù, các dữ liệu cho thấy đa số kháng sinh, kháng nấm thường sử dụng, có thể bài tiết vào sữa mẹ nhưng ít gây hại đến trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, vẫn có quan điểm về việc ngưng cho con bú mẹ hoặc trì hoãn điều trị không phù hợp. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của người phụ nữ và ảnh hưởng đến lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ. Do đó, việc xây dựng nguồn thông tin về tính an toàn của nhóm thuốc này đối với phụ nữ cho con bú là rất cần thiết. Đây sẽ là nguồn dữ liệu tham khảo đáng tin cậy để tư vấn và sử dụng kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú. Qua đó, góp phần vào việc sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và hợp lý trên đối tượng người bệnh là phụ nữ đang trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ.
Báo cáo hoạt động theo dõi adr năm 2025 của Bệnh viện Từ Dũ



