Tiêm một liều vắc-xin HPV có hiệu quả tương đương hai liều
Dịch
HPV (Human Papillomavirus – HPV) là một trong số tác nhân gây ra bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất tại Hoa Kỳ. Nhiễm các chủng HPV nguy cơ cao có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung, gây tử vong cho khoảng 250.000 phụ nữ mỗi năm trên toàn cầu. Virus này còn gây ung thư hầu họng (đặc biệt vùng gốc lưỡi và amidan), ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật và hậu môn. Một số chủng khác còn gây ra mụn cóc sinh dục.
Vắc xin HPV có thể ngăn ngừa được ung thư cổ tử cung và một số loại ung thư khác, nhưng chưa được tiêm phòng rộng rãi trên toàn cầu. Hiện chưa đến 30% nữ giới trong độ tuổi thanh thiếu niên được tiêm vắc xin này. Liệu trình tiêm vắc-xin HPV chuẩn cho thanh thiếu niên gồm hai liều. Các bằng chứng mới cho thấy liệu trình một liều cũng có hiệu quả bảo vệ đầy đủ. Liệu trình một liều dễ áp dụng hơn và được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị khi việc tiêm hai liều không áp dụng được từ năm 2022. Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào đánh giá trực tiếp liệu tiêm một liều vắc xin có hiệu quả bảo vệ tương đương so với tiêm hai liều hay không.

Một thử nghiệm lâm sàng do Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) tài trợ, TS. Aimée Kreimer (Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ, thuộc NIH) và TS. Carolina Porras (Cơ quan Nghiên cứu Y sinh Costa Rica – Agencia Costarricense de Investigaciones Biomédicas) chủ trì, đã tiến hành so sánh hiệu quả giữa liệu trình tiêm vắc-xin HPV một liều và hai liều. Nghiên cứu trên hơn 20.000 bé gái từ 12 đến 16 tuổi tại Costa Rica, trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 2 năm 2020. Nghiên cứu còn theo dõi hơn 3.000 phụ nữ và trẻ em gái chưa được tiêm chủng, nhằm ước tính tỷ lệ nhiễm HPV nền trong quần thể chưa tiêm chủng. Kết quả của nghiên cứu đã được công bố trên Tạp chí “The New England Journal of Medicine” ngày 03 tháng 12 năm 2025.
Những người tham gia nghiên cứu được tiêm ngẫu nhiên một liều vắc-xin HPV, “nhị giá” hoặc “chín giá”. Vắc-xin “nhị giá” phòng ngừa nhiễm HPV16 và HPV18, hai chủng virus này chiếm hơn 77% các trường hợp ung thư cổ tử cung trên toàn thế giới. Vắc-xin “chín giá” cũng phòng ngừa nhiễm hai chủng HPV nguy cơ cao này, cùng với năm loại HPV khác gây ung thư và hai loại HPV gây mụn cóc sinh dục. Sáu tháng sau khi tiêm liều vắc xin đầu tiên, một nửa số người tham gia nghiên cứu được tiêm liều vắc xin thứ hai cùng loại. Một nửa số người còn lại được tiêm vắc-xin phòng uốn ván, bạch hầu và ho gà để làm nhóm chứng. Sau đó, những bé gái từ 15 tuổi trở lên được xét nghiệm tầm soát nhiễm HPV mỗi 6 tháng trong vòng 5 năm.
Đối với cả hai loại vắc-xin, việc tiêm một liều vắc xin đã có hiệu quả phòng ngừa nhiễm HPV cổ tử cung dai dẳng. Về mặt thống kê, mức độ bảo vệ của việc tiêm một liều vắc xin không kém hơn so với tiêm hai liều. Nhiễm HPV dai dẳng được xác định khi tình trạng nhiễm kéo dài ít nhất 6 tháng hoặc được ghi nhận ở hai lần theo dõi liên tiếp. Bằng cách so sánh tỷ lệ nhiễm giữa nhóm thử nghiệm và nhóm chứng, nghiên cứu đã ước tính hiệu quả của từng liệu trình liều vắc-xin. Trong tất cả các trường hợp, vắc-xin đạt hiệu quả bảo vệ ít nhất 97% trong việc phòng ngừa nhiễm dai dẳng HPV16 và HPV18.
“Kết quả của nghiên cứu cho thấy việc tiêm một liều của bất kỳ loại vắc-xin HPV nào cũng có hiệu quả phòng ngừa nhiễm HPV và ung thư cổ tử cung, tương đương với liệu trình tiêm hai liều” Kreimer cho biết.
Tài liệu tham khảo:
Brian Doctrow. One dose of HPV vaccine as effective as two. National Institutes of Health website. April 17, 2026.
https://www.nih.gov/news-events/nih-research-matters/one-dose-hpv-vaccine-effective-two
Việc kê đơn kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú luôn tiềm ẩn nguy cơ đối với trẻ bú mẹ. Mặc dù, các dữ liệu cho thấy đa số kháng sinh, kháng nấm thường sử dụng, có thể bài tiết vào sữa mẹ nhưng ít gây hại đến trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, vẫn có quan điểm về việc ngưng cho con bú mẹ hoặc trì hoãn điều trị không phù hợp. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của người phụ nữ và ảnh hưởng đến lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ. Do đó, việc xây dựng nguồn thông tin về tính an toàn của nhóm thuốc này đối với phụ nữ cho con bú là rất cần thiết. Đây sẽ là nguồn dữ liệu tham khảo đáng tin cậy để tư vấn và sử dụng kháng sinh, kháng nấm ở phụ nữ cho con bú. Qua đó, góp phần vào việc sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và hợp lý trên đối tượng người bệnh là phụ nữ đang trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ.
Báo cáo hoạt động theo dõi adr năm 2025 của Bệnh viện Từ Dũ
Phức hợp kháng thể – thuốc (antibody–drug conjugates, ADC) hiện là một trong những bước tiến quan trọng trong điều trị ung thư vú giai đoạn sớm hoặc di căn với những biến đổi HER2 (yếu tố tăng trưởng biểu bì ở người), được chứng minh về đáp ứng, thời gian sống còn và độ an toàn. Với hiệu quả ngày càng tăng của ADC trong ung thư vú với HER2 dương tính (HER2+), nhiều tranh luận đang diễn ra xoay quanh việc kết hợp và trình tự điều trị tối ưu, cũng như những nghiên cứu mở rộng cho các thuốc khác.
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) với các triệu chứng ợ nóng, buồn nôn … rất phổ biến trong thai kỳ, ảnh hưởng 30- 80% phụ nữ mang thai (1). Với tần suất và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng tăng lên vào cuối thai kỳ. Mục tiêu điều trị là làm giảm các triệu chứng cho thai phụ mà không gây hại cho thai nhi.
Có ba loại muối tiêm benzylpenicillin cần được phân biệt rõ. Ba loại muối này không thể thay thế cho nhau về mặt lâm sàng.
- Benzylpenicillin natri
- Benzathin benzylpenicillin
- Procain benzylpenicillin
Vitamin D đóng vai trò quan trọng trong sức khỏe thai kỳ và sự phát triển của trẻ. Thiếu vitamin D trong giai đoạn mang thai liên quan đến nhiều nguy cơ bất lợi đối với mẹ và thai nhi. Các hướng dẫn mới hiện nay khuyến cáo phụ nữ mang thai nên được bổ sung vitamin D, mặc dù mức nồng độ tối ưu vẫn chưa được thống nhất.



