Tylenol có an toàn khi sử dụng trong thời kỳ mang thai?
Lược dịch
Acetaminophen (paracetamol) đã được sử dụng để hạ sốt và giảm đau từ nhẹ đến trung bình. Thuốc có sẵn ở dạng đơn chất hoặc kết hợp với các thuốc khác để điều trị các triệu chứng cảm lạnh, cúm, đau đầu và viêm xương khớp. Tên thương mại phổ biến là Tylenol. Theo Tạp chí Wall Street Journal đưa tin, Bộ trưởng Y tế Hoa Kỳ dự định thông tin về mối liên quan giữa chứng tự kỷ và việc phơi nhiễm với thuốc giảm đau và hạ sốt Tylenol trước khi sinh, như sau:
Kết quả nghiên cứu về việc sử dụng Acetaminophen trong thai kỳ như thế nào?
Chưa có bằng chứng khẳng định mối liên quan giữa việc sử dụng Acetaminophen với chứng tự kỷ. Những nghiên cứu gần đây đã đưa ra các kết luận trái chiều về việc sử dụng Acetaminophen trong thai kỳ có gây nguy cơ đối với sự phát triển của bào thai hay không.
Năm 2024, nghiên cứu trên gần 2,5 triệu trẻ em tại Thụy Điển, không tìm thấy mối quan hệ nhân quả giữa việc phơi nhiễm Acetaminophen trong tử cung với rối loạn sự phát triển thần kinh như rối loạn phổ tự kỷ hoặc rối loạn tăng động giảm chú ý.
Năm 2025, một đánh giá trên 46 nghiên cứu trước đó đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc phơi nhiễm với Acetaminophen trước khi sinh và nguy cơ mắc các bệnh lý này. Nhưng các nhà nghiên cứu từ Trường Y Icahn tại Mount Sinai, Đại học Harvard và các nơi khác cho biết nghiên cứu này không chứng minh được loại thuốc này đã gây ra kết cục này. Họ khuyến cáo thai phụ nên tiếp tục sử dụng Acetaminophen khi cần, ở liều thấp nhất và trong thời gian ngắn nhất có thể.
Những nghiên cứu khác tại Châu Âu và Nhật Bản năm 2025 cho rằng dường như mối liên quan nhỏ giữa việc sử dụng acetaminophen trước khi sinh với rối loạn sự phát triển tâm thần kinh có thể là do các yếu tố gây nhiễu, bao gồm các yếu tố cơ bản khác - chẳng hạn như điều kiện môi trường sống, tình trạng sức khỏe và di truyền của cha mẹ, các loại thuốc khác mà người mẹ đã uống và bệnh tật.
Hướng dẫn y tế đối với phụ nữ mang thai là gì?
Acetaminophen/ Paracetamol là thuốc giảm đau và hạ sốt được khuyến cáo dùng hàng đầu trong thai kỳ, theo hướng dẫn của Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội Sản phụ khoa Hoàng gia Anh và các tổ chức y tế khác. Các Hiệp hội này cũng cảnh báo về việc sử dụng Ibuprofen, Naproxen và những loại thuốc chống viêm không steroid khác trong tam cá nguyệt thứ ba có thể dẫn đến dị tật bẩm sinh.
Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ khuyên rằng phụ nữ mang thai nên trao đổi với bác sĩ nếu cần dùng bất kỳ các loại thuốc được nêu trên.

Không hạ sốt trong thời kỳ mang thai có những rủi ro gì?
Sốt và đau ở mẹ không được điều trị trong quá trình phát triển của thai nhi có thể làm tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh như bệnh tim, dị tật thành bụng và dị tật ống thần kinh, trong đó não và tủy sống không hình thành bình thường. Đau và sốt không được điều trị cũng có liên quan đến sinh non, trẻ nhẹ cân và sảy thai.
Ở phụ nữ mang thai, sốt và đau không được điều trị có thể gây ra huyết áp cao, mất nước, trầm cảm, lo âu và các vấn đề sức khỏe khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Nancy Lapid. Explainer-Is Tylenol Safe to Take During Pregnancy?. Updated September 05, 2025. https://www.medscape.com/s/viewarticle/explainer-tylenol-safe-take-during-pregnancy-2025a1000nky
2) Acetaminophen (Paracetamol). Updated September, 2023. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK582555/#:~:text=Acetaminophen%20is%20considered%20by%20most,provider%20has%20given%20other%20instructions.
Theo IDSA 2026: Mặc dù có hiệu quả đối với nhiễm ESBL-E, nhóm chuyên gia đề xuất ưu tiên dành aztreonam-avibactam, ceftazidime-avibactam, meropenem-vaborbactam, imipenem-relebactam, ceftolozane-tazobactam và cefiderocol để điều trị nhiễm do các vi khuẩn biểu hiện kháng carbapenem.
Theo IDSA 2026: Nếu cefepime được khởi trị kinh nghiệm cho uUTI do vi khuẩn sau đó xác định là ESBL-E và người bệnh cải thiện lâm sàng, không cần thay đổi hay kéo dài liệu trình kháng sinh. Nhóm chuyên gia đề xuất tránh cefepime trong điều trị cUTI hoặc nhiễm ngoài đường tiết niệu do ESBL-E, ngay cả khi đã chứng minh nhạy cảm với cefepime.
Theo IDSA 2026: Nếu piperacillin-tazobactam được khởi trị kinh nghiệm cho uUTI do một vi khuẩn sau đó xác định là ESBL-E và người bệnh cải thiện lâm sàng, không cần đổi thuốc cũng như không cần kéo dài thời gian điều trị. Nhóm chuyên gia đề xuất piperacillin-tazobactam là lựa chọn thay thế cho cUTI do ESBL-E ở người bệnh không nguy kịch và không kèm nhiễm khuẩn huyết. Ngược lại, không khuyến nghị piperacillin-tazobactam để điều trị nhiễm ESBL-E ngoài đường tiết niệu, ngay cả khi đã chứng minh nhạy cảm in vitro với piperacillin-tazobactam.
Theo IDSA 2026: Ertapenem, imipenem và meropenem là các thuốc ưu tiên điều trị nhiễm ESBL-E ngoài đường tiết niệu. Imipenem hoặc meropenem được ưu tiên ở người bệnh nguy kịch hoặc giảm albumin máu. Cefepime-enmetazobactam là lựa chọn thay thế cho các nhiễm ESBL-E ngoài đường tiết niệu. Khi đã đạt đáp ứng lâm sàng phù hợp, có thể cân nhắc chuyển sang ciprofloxacin, levofloxacin hoặc TMP-SMX đường uống, với điều kiện đã chứng minh nhạy cảm in vitro.
Enterobacterales sinh β-lactamase phổ rộng (ESBL-E) là nhóm vi khuẩn có khả năng bất hoạt phần lớn penicillin, cephalosporin và aztreonam. Các chủng ESBL-E vẫn còn nhạy cảm với carbapenem, nhưng thường đồng mang thêm gen hoặc đột biến làm mở rộng phổ kháng đối với nhiều nhóm kháng sinh không phải β-lactam. ESBL gặp phổ biến nhất ở Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae và Klebsiella oxytoca.
Trong thực hành lâm sàng, việc thiếu các nguồn thông tin cập nhật và đáng tin cậy về tính an toàn của thuốc trong thời kỳ cho con bú có thể dẫn đến lựa chọn điều trị chưa tối ưu, ngừng cho con bú hoặc trì hoãn điều trị không cần thiết. Do đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin thuốc dựa trên bằng chứng là cần thiết nhằm hỗ trợ nhân viên y tế đánh giá nguy cơ, lựa chọn thuốc phù hợp và tư vấn sử dụng thuốc an toàn, góp phần đảm bảo hiệu quả điều trị cho người mẹ đồng thời duy trì nuôi con bằng sữa mẹ.



