Vai trò của Cefepime và Cephamycin trong điều trị nhiễm Esbl-E theo IDSA 2026
1. Vai trò của cefepime trong điều trị nhiễm ESBL-E
Theo IDSA 2026: Nếu cefepime được khởi trị kinh nghiệm cho uUTI do vi khuẩn sau đó xác định là ESBL-E và người bệnh cải thiện lâm sàng, không cần thay đổi hay kéo dài liệu trình kháng sinh. Nhóm chuyên gia đề xuất tránh cefepime trong điều trị cUTI hoặc nhiễm ngoài đường tiết niệu do ESBL-E, ngay cả khi đã chứng minh nhạy cảm với cefepime.
Cơ sở lựa chọn: ESBL thường thủy phân cefepime nếu không được bảo vệ bởi chất ức chế β-lactamase (ví dụ enmetazobactam). Hơn nữa, ngay cả khi chủng sinh ESBL được báo cáo nhạy cảm với cefepime, xét nghiệm MIC cefepime bằng các phương pháp AST thương mại có thể không chính xác và/hoặc kém tái lập. Chưa có thử nghiệm lâm sàng so sánh kết cục của người bệnh nhiễm khuẩn huyết do ESBL-E được điều trị bằng cefepime với carbapenem.


2. Vai trò của cephamycin trong điều trị nhiễm ESBL-E
Theo IDSA 2026: Không khuyến nghị cephamycin để điều trị nhiễm ESBL-E cho đến khi có thêm dữ liệu kết cục lâm sàng với cefoxitin hoặc cefotetan và xác định được liều tối ưu.
Cơ sở lựa chọn và phân tích dược lâm sàng: Cephamycin là một phân nhóm cephalosporin nhìn chung bền vững trước sự thủy phân của enzym ESBL. Tại Hoa Kỳ, cefoxitin và cefotetan là hai cephamycin duy nhất hiện có; cả hai đều dùng đường tĩnh mạch. Ít nhất 10 nghiên cứu quan sát đã so sánh kết cục lâm sàng ở người bệnh nhiễm ESBL-E được điều trị bằng cephamycin hoặc carbapenem, thường nhất là UTI hoặc nhiễm khuẩn huyết có nguồn từ đường tiết niệu. Tám nghiên cứu không ghi nhận khác biệt kết cục, trong khi hai nghiên cứu cho thấy kết cục kém hơn với cephamycin, bao gồm nghiên cứu lớn nhất ghi nhận sống còn 30 ngày là 71% (94/132) với cephamycin so với 87% (115/132) với carbapenem ở người bệnh nhiễm khuẩn huyết do ESBL-E. Việc diễn giải các nghiên cứu này bị hạn chế bởi thiết kế quan sát, tính không đồng nhất về nguồn nhiễm, sai lệch chọn mẫu đáng kể và sự khác nhau về loại cephamycin, chiến lược liều cũng như thời gian điều trị.

Tài liệu tham khảo
Tamma PD, Bonomo RA, Heil EL, Justo JA, Satlin MJ, Mathers AJ. Infectious Diseases Society of America 2026 Guidance on the Treatment of Antimicrobial-Resistant Gram-Negative Infections. Clin Infect Dis. 2026;ciag481. doi:10.1093/cid/ciag481.
Theo IDSA 2026: Mặc dù có hiệu quả đối với nhiễm ESBL-E, nhóm chuyên gia đề xuất ưu tiên dành aztreonam-avibactam, ceftazidime-avibactam, meropenem-vaborbactam, imipenem-relebactam, ceftolozane-tazobactam và cefiderocol để điều trị nhiễm do các vi khuẩn biểu hiện kháng carbapenem.
Theo IDSA 2026: Nếu piperacillin-tazobactam được khởi trị kinh nghiệm cho uUTI do một vi khuẩn sau đó xác định là ESBL-E và người bệnh cải thiện lâm sàng, không cần đổi thuốc cũng như không cần kéo dài thời gian điều trị. Nhóm chuyên gia đề xuất piperacillin-tazobactam là lựa chọn thay thế cho cUTI do ESBL-E ở người bệnh không nguy kịch và không kèm nhiễm khuẩn huyết. Ngược lại, không khuyến nghị piperacillin-tazobactam để điều trị nhiễm ESBL-E ngoài đường tiết niệu, ngay cả khi đã chứng minh nhạy cảm in vitro với piperacillin-tazobactam.
Theo IDSA 2026: Ertapenem, imipenem và meropenem là các thuốc ưu tiên điều trị nhiễm ESBL-E ngoài đường tiết niệu. Imipenem hoặc meropenem được ưu tiên ở người bệnh nguy kịch hoặc giảm albumin máu. Cefepime-enmetazobactam là lựa chọn thay thế cho các nhiễm ESBL-E ngoài đường tiết niệu. Khi đã đạt đáp ứng lâm sàng phù hợp, có thể cân nhắc chuyển sang ciprofloxacin, levofloxacin hoặc TMP-SMX đường uống, với điều kiện đã chứng minh nhạy cảm in vitro.
Enterobacterales sinh β-lactamase phổ rộng (ESBL-E) là nhóm vi khuẩn có khả năng bất hoạt phần lớn penicillin, cephalosporin và aztreonam. Các chủng ESBL-E vẫn còn nhạy cảm với carbapenem, nhưng thường đồng mang thêm gen hoặc đột biến làm mở rộng phổ kháng đối với nhiều nhóm kháng sinh không phải β-lactam. ESBL gặp phổ biến nhất ở Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae và Klebsiella oxytoca.
Trong thực hành lâm sàng, việc thiếu các nguồn thông tin cập nhật và đáng tin cậy về tính an toàn của thuốc trong thời kỳ cho con bú có thể dẫn đến lựa chọn điều trị chưa tối ưu, ngừng cho con bú hoặc trì hoãn điều trị không cần thiết. Do đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin thuốc dựa trên bằng chứng là cần thiết nhằm hỗ trợ nhân viên y tế đánh giá nguy cơ, lựa chọn thuốc phù hợp và tư vấn sử dụng thuốc an toàn, góp phần đảm bảo hiệu quả điều trị cho người mẹ đồng thời duy trì nuôi con bằng sữa mẹ.
Lựa chọn biện pháp tránh thai không chỉ dựa trên hiệu quả tránh thai mà còn phải cân nhắc tình trạng sức khỏe, nguy cơ huyết khối – tim mạch, thời điểm sử dụng sau sinh, tình trạng cho con bú, các thuốc dùng đồng thời và mong muốn của người sử dụng.



