Sổ tay An toàn sử dụng thuốc - Đối với phụ nữ cho con bú
Nuôi con bằng sữa mẹ là biện pháp tối ưu giúp đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Đây cũng là giải pháp giúp mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe của người mẹ. Trong giai đoạn cho con bú, người mẹ vẫn có thể mắc các bệnh lý cấp tính hoặc mạn tính cần điều trị bằng thuốc. Tuy nhiên, dữ liệu về tính an toàn của nhiều thuốc ở phụ nữ cho con bú còn hạn chế do thiếu các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng. Điều này dẫn đến nhiều băn khoăn trong thực hành lâm sàng khi cân nhắc giữa lợi ích điều trị cho người mẹ và nguy cơ phơi nhiễm thuốc đối với trẻ bú mẹ.
Trong thực hành lâm sàng, việc thiếu các nguồn thông tin cập nhật và đáng tin cậy về tính an toàn của thuốc trong thời kỳ cho con bú có thể dẫn đến lựa chọn điều trị chưa tối ưu, ngừng cho con bú hoặc trì hoãn điều trị không cần thiết. Do đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin thuốc dựa trên bằng chứng là cần thiết nhằm hỗ trợ nhân viên y tế đánh giá nguy cơ, lựa chọn thuốc phù hợp và tư vấn sử dụng thuốc an toàn, góp phần đảm bảo hiệu quả điều trị cho người mẹ đồng thời duy trì nuôi con bằng sữa mẹ.
Sổ tay thông tin về tính an toàn của thuốc đối với phụ nữ cho con bú được biên soạn nhằm tổng hợp và hệ thống hóa các dữ liệu hiện có về sử dụng thuốc trong thời kỳ cho con bú đối với các thuốc thuộc Danh mục thuốc của Nhà thuốc Bệnh viện Từ Dũ. Thông tin được trình bày theo thứ tự bảng chữ cái của tên hoạt chất, cập nhật từ các cơ sở dữ liệu và tài liệu tham khảo uy tín, giúp hỗ trợ tra cứu nhanh trong quá trình kê đơn, tư vấn và hướng dẫn sử dụng thuốc cho người bệnh điều trị ngoại trú.Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý đồng nghiệp để tiếp tục cập nhật, hoàn thiện nội dung sổ tay, đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực hành lâm sàng và góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe của bà mẹ và trẻ em.
Chủ biên và biên tập:
TS.DS. Huỳnh Thị Hồng Gấm
Tham gia biên soạn:
- ThS.DS. Trần Thị Thu Hiền
- ThS.DS. Đặng Thị Thuận Thảo
- ThS.DS. Võ Trương Diễm Phương
- DS. Trần Hoàng Yến Nhi
- DS. Dương Ngọc Phương Trinh

Theo IDSA 2026: Mặc dù có hiệu quả đối với nhiễm ESBL-E, nhóm chuyên gia đề xuất ưu tiên dành aztreonam-avibactam, ceftazidime-avibactam, meropenem-vaborbactam, imipenem-relebactam, ceftolozane-tazobactam và cefiderocol để điều trị nhiễm do các vi khuẩn biểu hiện kháng carbapenem.
Theo IDSA 2026: Nếu cefepime được khởi trị kinh nghiệm cho uUTI do vi khuẩn sau đó xác định là ESBL-E và người bệnh cải thiện lâm sàng, không cần thay đổi hay kéo dài liệu trình kháng sinh. Nhóm chuyên gia đề xuất tránh cefepime trong điều trị cUTI hoặc nhiễm ngoài đường tiết niệu do ESBL-E, ngay cả khi đã chứng minh nhạy cảm với cefepime.
Theo IDSA 2026: Nếu piperacillin-tazobactam được khởi trị kinh nghiệm cho uUTI do một vi khuẩn sau đó xác định là ESBL-E và người bệnh cải thiện lâm sàng, không cần đổi thuốc cũng như không cần kéo dài thời gian điều trị. Nhóm chuyên gia đề xuất piperacillin-tazobactam là lựa chọn thay thế cho cUTI do ESBL-E ở người bệnh không nguy kịch và không kèm nhiễm khuẩn huyết. Ngược lại, không khuyến nghị piperacillin-tazobactam để điều trị nhiễm ESBL-E ngoài đường tiết niệu, ngay cả khi đã chứng minh nhạy cảm in vitro với piperacillin-tazobactam.
Theo IDSA 2026: Ertapenem, imipenem và meropenem là các thuốc ưu tiên điều trị nhiễm ESBL-E ngoài đường tiết niệu. Imipenem hoặc meropenem được ưu tiên ở người bệnh nguy kịch hoặc giảm albumin máu. Cefepime-enmetazobactam là lựa chọn thay thế cho các nhiễm ESBL-E ngoài đường tiết niệu. Khi đã đạt đáp ứng lâm sàng phù hợp, có thể cân nhắc chuyển sang ciprofloxacin, levofloxacin hoặc TMP-SMX đường uống, với điều kiện đã chứng minh nhạy cảm in vitro.
Enterobacterales sinh β-lactamase phổ rộng (ESBL-E) là nhóm vi khuẩn có khả năng bất hoạt phần lớn penicillin, cephalosporin và aztreonam. Các chủng ESBL-E vẫn còn nhạy cảm với carbapenem, nhưng thường đồng mang thêm gen hoặc đột biến làm mở rộng phổ kháng đối với nhiều nhóm kháng sinh không phải β-lactam. ESBL gặp phổ biến nhất ở Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae và Klebsiella oxytoca.
Lựa chọn biện pháp tránh thai không chỉ dựa trên hiệu quả tránh thai mà còn phải cân nhắc tình trạng sức khỏe, nguy cơ huyết khối – tim mạch, thời điểm sử dụng sau sinh, tình trạng cho con bú, các thuốc dùng đồng thời và mong muốn của người sử dụng.



